Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

ÔN TẬP LỚP 12- PHẦN VĂN XUÔI VIỆT NAM

TÀI LIỆU ÔN TẬP LỚP 12

PHẦN VĂN XUÔI VIỆT NAM

I. Tình huống truyện

1.Tình huống truyện: Sự kiện đặc biệt chi phối và làm sáng lên, đậm nét về nhân vật; thể hiện rõ tư tưởng chủ đề của tác phẩm mà nhà văn nói tới

2. Tình huống truyện trong một số tác phẩm văn xuôi lớp 12:

a. Tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân:

+Nhân vật Tràng nghèo, xấu trai lại là dân ngụ cư, giữa lúc đói khát nhất, khi cái chết đang cận kề lại nhặt được người phụ nữ làm vợ à tình huống éo le là đầu mối cho sự phát triển của truyện, tác động đến tâm trạng, hành động của các nhân vật và thể hiện chủ đề của truyện.

+Những biểu hiện chính:

++ Tràng dẫn người phụ nữ về nhà làm cho những ngưởi dân ngạc nhiên; bà cụ Tứ ngạc nhiên và chính bản thân Tràng cũng ngạc nhiên ( trên đường về nhà; tới nhà; bà cụ Tứ chấp nhận; hai mẹ con dọn dep nhà cửa vườn tược sạch sẽ, gọn gàng; bữa cơm ngày đói vui vẻ; đoàn người đi phá kho thóc, lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới.

b. Tác phẩm Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi

                 Câu chuyện về một gia đình anh giải phóng quân tên Việt

+ Nhân vật Việt – một chiến sĩ Quân giải phóng rơi vào tình huống đặc biệt: trong một trận đánh anh bị thương nặng nằm lại chiến trường nhiều lần bị ngất đi tỉnh lại; mỗi lần tỉnh lại Việt nghe theo tiếng súng của bộ đội ta lết về hướng đó; anh nhớ về quê hương; gia đình về những người thân như ba, má, chú Năm; nhớ những ngày còn nhỏ, lớn lên xung phong đi bộ đội cùng với chị Chiến…

+Truyện kể theo dòng nội tâm nhân vật khi đứt ( ngất ) khi nối ( tỉnh ) của người trong cuộc làm câu chuyện trở nên chân thật hơn; có thể thay đổi đối tượng, không gian, thời gian, đan xen tự sự và trữ tình .

c. Tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu:

* Sự kiện đặc biệt: kết thúc sự kiện người đàn bà được mời đến công sở giải quyết bi kịch gia đình là “ một cái gì vừa mới vỡ ra …suy nghĩ”

* Các chi tiết tiêu biểu thể hiện tình huống truyện:

+ Người đàn ông (người chồng) đánh người đàn bà (người vợ);   người đàn bà cam chịu, không chống trả, không chạy trốn; cậu bé Phác (người con trai) phản ứng và bị người đàn ông (người cha) đánh thô bạo; người mẹ đau đớn xót xa (khóc)

+ Người đàn bà được mời lên công sở giải quyết bi kịch gia đình, bà từ chối bỏ nó (người chồng)

+ Nhân vật Đẩu nhận ra nhiều điều: cuộc sống còn rất nhiều nghịch lí mà mỗi con người phải chấp nhận và trút một tiếng thở dài đầy chua xót. Cũng từ đó vỡ ra trong nhận thức: mối quan hệ giữa sách vở, luật pháp với đời sống; VHNT với thực tế cuộc sống của nhân dân

II. Giá trị nhân đạo

  1. 1.Giá trị nhân đạo

+ Tiếng nói lên án, tố cáo tội ác của giai cấp phong kiến cùng bọn thực dân

+ Cảm thông chia sẻ, yêu thương những người có số phận hẩm hiu, nghèo khổ, sống khốn khó

+ Phát hiện và ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp trong mỗi con người ở cuộc sống lúc bấy giờ

2. Giá trị nhân đạo trong một số tác phẩm văn xuôi lớp 12

a.Truyện Vợ chồng APhủ - Tô Hoài

+Tố cáo lên án, phơi bày bản chất xấu xa, tàn bạo của giai cấp thống trị và lũ Tây đồn: Cha c on Thống lí Pá Tra cùng bọn Tây đồn: Thế lực cường quyền, cướp đoạt ruộng đất, bóc lột sức lao động, đánh đập hành hạ người lao động dã man; thế lực thần quyền duy trì hủ tục trình ma, áp bức con người về tinh thần( cướp đoạt quyền sống , tước đoạt cả sức sống)

+Tình yêu thương, sự đồng cảm sâu sắc với thân phận đau khổ của người dân lao động miền núi trước Cách mạng: Mị và Aphủ người là con dâu gạt nợ; người là kẻ ở trừ nợ sống cực khổ trong nhà thống lí bị áp bức bởi thần quyền và cường quyền…nhà văn cảm thương sâu sắc với những khổ đau mà Mị và Aphủ chịu đựng; thể hiện tiếng nói yêu thương của những người cùng cảnh ngộ Mị cởi trói cứu Aphủ..

+Trân trọng và ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn , sức sống mãnh liệt và khả năng làm cách mạng của nhân dân Tây Bắc: Sự phản kháng quyết liệt ( định tự tử ); khát vọng hạnh phúc ( những đêm tình mùa xuân); khát vọng sống mãnh liệt (những đêm đông Mị cởi trói cứu Aphủ và cùng chạy trốn khỏi Hồng Ngài)

b.Truyện Vợ nhặt – Kim Lân

Qua các nhân vật nhà văn muốn thể hiện tư tưởng: “ dù kề bên cái đói , cái chết, người ta vẫn khát khao hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng ở tương lai”

+Lên tiếng tố cáo tội ác của TDPháp, phát xít nhật cùng bọn phong kiến gây ra nạn đói khủng khiếp là hai triệu đống báo ta chết đói; lời tố cáo nhẹ nhàng nhưng rất mạnh mẽ. Tác giả không trực tiếp nhưng qua việc miêu tả tình cảnh thê thảm của người dân lao động nghèo khổ truyên mang ý nghĩa tố cáo những kẻ gây ra nạn đói đẩy thân phận con người đến chỗ rẻ mạt ( Thân phận người vợ nhặt, việc Tràng có vợ…)

+Nỗi thống khổ mà con người lúc đó phải gánh chịu, người chết như ngả ra, người sống vật vờ như những bóng ma…đói và khát

+Phát hiện và ca ngợi những phấm chất cao đẹp:

++ Tình người, tình mẫu tử ( dân xóm ngụ cư lo mừng; tình cảm của Tràng dành cho vợ; của bà cụ Tứ dành cho người phụ nữ; người mẹ thương con).

++Khẳng định đề cao khát vọng hạnh phúc gia đình: Tràng và thị đến với nhau theo tiếng gọi của hạnh phúc và làm cho cuộc sống có nhiều thay đổi…

++Khẳng định và đề cao khát vọng sống, hi vọng vào cuộc sống và tương lai: Cuộc sống gia đình ấm cúng, vui vẻ; luôn tin tưởng, hướng về tương lai…

c. Truyện Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu

+ Lên án thói vũ phu tàn bạo, báo động về tình trạng bạo lực gia đình: Hành động của người chồng như một con thú dữ không còn nhân tính với thái độ lên án, không dửng dưng. Hành động ngăn cản thói vũ phu của Phác – ngăn cha, của Phùng đánh nhau với người chồng…

+ Phát hiện, ca ngợi vẻ đẹp còn tiếm ẩn: Tình mẫu tử; lên tiếng bảo vệ khát vọng được sống trong tình yêu thương, yên bình của trẻ thơ: thấu hiểu, vết thường lòng của những đứa trẻ, nỗi lo âu đầy trách nhiệm và hướng tới giải pháp xã hội thoát ra khỏi mọi tình trạng lúc đó.

III.Những kiến thức cơ bản

Bài 1 : VỢ NHẶT (TRÍCH ) - KIM LÂN

+ Kim Lân (1920 - 2007) ngay từ nhỏ phải đi làm để kiếm sống nên hiểu rất rõ cuộc sống xã hội thời kì trước cách mạng tháng 8.1945,văn của ông chủ yếu viết về cuộc sống của con người vất vả, lam lũ; về những nét văn hoá truyền thống, nét đẹp ở con người; là sự hóm hỉnh nhưng mộc mạc; ngôn ngữ gần đời thường nhưng lôi cuốn gợi cảm; tạo tình huống bất ngờ đặc sắc.

+ Một trong những tác phẩm nổi tiếng một thời của nhà văn chính là Vợ nhặt ( 1954); truyện ngắn thể hiện rõ con người dù bị đẩy vào chỗ cùng cực nhất nhưng vẫn khát khao hạnh phúc gia đình, tình yêu thương cưu mang đùm bọc và hướng về cách mạng .

Nhan đề

+ Nhặt ( lượm, thu, vơ…) được người phụ nữ (con người) đem về để làm vợ; người đọc cảm nhận rõ cuộc đời, số phận con người ( phụ nữ) rẻ rúng như rơm rác; và vừa hài hứơc hóm hỉnh vừa xót xa thương cảm; số phận hoàn cảnh vừa bi thảm vừa thấm đẫm tình người; tạo sự lôi cuốn cho nguời đọc.

Diễn biến tâm trạng Nhân vật Tràng:

*Xóm ngụ cư có một chàng trai tên là: Tràng bước đi ngật ngưỡng trên con đường khẳng khiu; chịu cảnh đói khát; làm thuê làm mướn trên huyện để kiếm miếng ăn nuôi thân. Con người Tràng: xấu, nghèo túng nhất là lại là dân ngụ cư; sống trong căn nhà (lều) hết sức tồi tàn; anh ta sẽ không bao giờ lấy được vợ (không dám nghĩ đến) hơn thế lại ở giữa thời buổi đói khát; thiếu thốn à người đọc cảm thông cho cuộc đời, số phận của Tràng.

*Khát khao hạnh phúc và có ý thức xây dựng hạnh phúc: Là một người lao động nghèo, tốt bụng và cởi mở giữa cảnh đói khát anh sẵn lòng đãi người đàn bà xa lạ một bữa ăn đơn sơ

Câu nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về và rồi Tràng đã liều đưa người đàn bà về nhà ẩn chứa niềm khát khao mái ấm gia đình

+ Một buổi chiều nơi xóm nhỏ dân xóm ngụ cư thấy Tràng đi cùng với một người phụ nữ- người mà anh ta   “ nhặt” được khi đi làm thuê đưa về để làm vợ. Một sự lạ kì cho xóm ngụ cư; một điều lạ lùng cho bà cụ Tứ - người mẹ Tràng và lạ lẫm ngay cho cả chính Tràng.

à Kim Lân tạo ra tình huống rất éo le, đặc biệt đặt nhân vật của mình vào trong đó àsố phận con người trong cuộc sống lúc bấy giờ. Song chính tình huống đặc biệt đã dẫn câu chuyện đi được vào điều sâu xa nhất trong tâm hồn con người“ Ốc dám mang cọc cho rêu”

+   Cùng với người phụ nữ về ngôi nhà nhỏ trong xóm ngụ cư :Tràng hình như quên đi cái quá khứà trỗi dậy trong niềm vui, khát khao; tâm trạng vui vẻàgợi về một tình cảm: tình yêu thương. Khi đứng trước ngôi nhà của mình: Ngây người, ngựơng nghịu; tâm trạng : mừng- lo chờ đợi mẹ về.

+   Kim Lân dành một đoạn văn miêu tả cuộc gặp mặt, đối thoại giữa người mẹ và “ vợ chồng” Tràng. Anh đã đón mẹ lễ phép (có phần cung kính) trình bày việc quan trọng, lo sợ mẹ không đồng ý. Người mẹ thương con trai và thương cả cô con dâu Tràng vui mừng, muốn làm một việc gì đó cho gia đình này

* Buổi sáng đầu tiên khi có vợ thấy nhà cửa sạch sẽ, gọn gàng Tràng cảm thấy yêu thương gắn bó, có trách nhiệm với gia đình, nhận ra bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này; anh cảm nhận sự ấm cúng, đáng yêu của một gia đình và anh có trách nhiệm bổn phận chăm lo gia đình, dù cơ cực vẫn cưu mang, xây dựng một gia đình . Anh cũng nghĩ tới sự đổi thay cho dù vẫn chưa ý thức được đầy đủ khi nhìn thấy hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng trên đê Sộp

F Kim Lân thành công tạo tình huống diễn tả đặc sắc nét tâm lí nhân vật Tràng: cảm nhận được tình yêu và mong muốn có được một gia đình , nghị lực vươn lên .

Diễn biến tâm trạng Nhân vật bà cụ Tứ ( người mẹ)

* Giới thiệu: Xuất hiện từ phần giữa của truyện ngắn à vị trí quan trọng; bà mẹ nghèo, già yếu lưng còng, dáng lom khom, mắt hấp háy; người mẹ thương và lo cho con …

* Bà cụ Tứ ngỡ ngàng, lạ kì khi con trai có cử chỉ hành động không bình thường, ngơ ngác khi nghe tiếng chào u; sững sờ, ngạc nhiên khi thấy có những việc bất thường trong nhà của mình; bà chỉ biết nín lặng cúi đầu.

* Khi bà hiểu rõ nguồn cơn lòng người mẹ vừa ai oán xót thương một sự đan xen: mừng, lo, thương, tủi cho con mình và cả cho chính mình; thương con traià thương người phụ nữ, bà nói toàn chuyện vui, động viên con; nói tương lai…Tạo ra một sự mới mẻ ngay từ trong gia đình và trên hết vẫn là niềm vui một cuộc sống gia đình tốt đẹp sẽ tới.

* Cảnh bữa cơm sáng:

+ Dậy sớm dọn dẹp nhà cửa, sân vườn gọn gàng, sạch sẽ "tạo ra không khí mới

+ Lo bữa cơm đầu tiên đón con dâu ( chuối thái rối, đĩa muối, nồi cháo loãng; nồi chè khoán- chè cám) bà đã cố gắng thu vén song chỉ được như vậy" sự thương con chăm lo hạnh phúc cho con; tình mẹ con, khát khao cuộc sống gia đìnhà niềm tin vào ngày mai

ÄKim Lân khắc hoạ thành công diễn biến tâm lí, hành động của người mẹ nghèo khổ rất mực thương con , qua những đoạn văn, câu văn, những chi tiết tiêu biểu thể hiện rõ tâm trạng lo- thương - trách nhiệm và hi vọng trong cuộc sống. Một người phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung và giầu lòng vị tha, một con người lạc quan, có niềm tin vào tương lai , hạnh phúc tươi sáng.

Diễn biến tâm trạng nhân vật người vợ nhặt – thị

           Xuất hiện không nhiều nhưng cũng đã để lại ấn tượng đối với người đọc

* Tác giả không đặt tên cho người phụ nữ mà gọi theo cách chung của giới tính – thị – vừa cụ thể về một con người một số phận vừa khái quát được những nét chung của những con người, số phận của những người phụ nữ khốn khó trong cuộc sống bấy giờ

* Người phụ nữ nghèo không tuổi, không quê quán, không gia đình, họ hàng thân thích… đi làm thuê kiếm sống; cuộc sống đói khát cùng cực đẩy người phụ nữ vào tình trạng vô cùng bi đát.è biết cưu mang lẫn nhau. :

Chú ý đoạn văn miêu tả và những từ ngữ:cong cớn: có vẻ đanh đá biểu hiện bằng nét mặt cử chỉ điệu bộ như chẩu môi, vênh mặt… ( nói về người phụ nữ; đon đả cử chỉ nhanh nhẩu, thái độ vồn vã khi tiếp xúc với ai; lon ton từ gợi tả dáng đi, chạy ( thường là của trẻ em) nhanh nhẹn vẻ hồ hởi; sầm sập từ mô phỏng như tiếng mưa to đổ xuống; sưng sỉa mặt nặng ra và như sưng lên, lộ rõ vẻ không bằng lòng,; leo lẻo nhanh miệng liến thoắng, tỏ ra không tật, không sâu sắc; thị tiếng lót giữa họ và tên nữ để phân biệt với tên nam; từ dùng đặt trước một tên riêng để chỉ hoặc gọi người phụ nữ ở tầng lớp dưới trong xã hội cũ; từ dùng để chỉ người phụ nưở ngôi thứ ba với ý coi khinh.

* Chấp nhận theo Tràng về làm vợ - vợ nhặt, sau khi ăn một chặp 4 bát bánh đúc

+ Trên đường theo Tràng về nhà, thị vừa e thẹn, vừa bộc lộ tình yêu thương, khát khao một gia đình

+ Khi người mẹ Tràng chấp nhận, thị thở phào nhẹ nhõm, cảm nhận được cuộc sống gia đình ấm cúng.

+ Buổi sáng hôm sau thị cùng với mẹ chồng lo thu vén, đảm nhận vai trò ngưởi vợ, người con dâu trong gia đình.

]Tác giả dành một số câu văn để miêu tả nét tâm trạng của thị: Nén tiếng thở dài; ngượng nghịu, nét mặt bần thần à lo lắng sợ sệt cho số phận của mình.

F là nạn nhân của nạn đói; những xô đẩy dữ dội của hoàn cảnh đã khiến thị chao chát, thô tục và chấp nhận làm vợ nhặt; tuy nhiên, sâu thẳm trong con người này vẫn khát khao một mái ấm và thị trở thành một con người hoàn toàn khác khi là người vợ trong gia đình.

Bài 2: VỢ CHỒNG A PHỦ ( TRÍCH ) - TÔ HOÀI

+ Tên thật là Nguyễn Sen -1920 - Hà Nội Làm nhiều nghề kiếm sống, có vốn hiểu biết phong phú về đời sống, phong tục tập quán (đặc biệt vùng Tây Bắc), lời văn giầu chất tạo hình nhiều trang miêu tả thiên

nhiên đặc sắc có chất thơ; lối kể chuyện sinh động hấp dẫn và hóm hĩnh; là một trong những nhà văn lớn của VHVN hiện đại, được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT (đợt 1) 1996.

+ Vợ chồng Aphủ là một truyện ngắn viết về hai chặng đường đời của Mị và APhủ –cô gái, chàng trai người Hmông ( Mèo): sống khổ cực trong nhà thống lí PáTra (Hồng Ngài); chạy trốn sang Phiềng Sa nên vợ nên chồng và gặp cách mạng.

Cha con thống lí PáTra và lũ Tây đồn: Tác giả lên tiếng tố cáo tội ác

@ Giai cấp thống trị với chức quyền cao nhất vùng Hồng ngài ( vùng núi phía Bắc )

@ Nhẫn tâm, tàn ác, cho vay nặng lãi, cướp không mọi thứ có thể; sử dụng quyền lực và lợi dụng thần quyền để thống trị, áp bức, bóc lột người dân; cấu kết với bọn đế quốc thực dân để bóc lột và thống trị.

+Thế lực cường quyền:

++Cướp đoạt ruộng đất, bóc lột sức lao động một cách tàn nhẫn

++Đánh đập, hành hạ người loa động một cách dã man

+Thế lực thần quyền: Duy trì hủ tục trình ma, áp bức con người về mặt tinh thần nặng nề như tước đoạt quyền sống, sức sống của Mị và APhủ

Thống lí PáTra nói với bố Mị: “ Cho tao đứa con gái này về làm dâu thì tao xóa hết nợ cho”.

Còn Asử thì nói với bố vợ: “Tôi đã cướp được con gái bố về làm vợ, tôi đem về cúng trình ma nhà tôi rồi, bây giờ tôi đến trình cho bố biết. Tiền bạc để cưới thì bố tôi bảo đã đưa cả cho bố rồi”.

Nhân vật Mị

1.Cuộc sống thống khổ khi làm dâu của Mị - cô gái HMông trong nhà thống lí Pa Tra

Mị bị bắt cóc về cúng trình ma trở thành con ma của nhà thống lí Pá Tra –Cô con dâu gạt nợ

+ Cuộc sống làm dâu khổ cực lầm lũi suốt ngày không ngẩng mặt lên được, công việc cứ lặp lại như một thói quen; bị đối xử tàn nhẫn, thậm tệ cô cảm thấy mình không bằng con trâu con ngựa; sống mà như đã chết. Bị đánh đập, hành hạ dã man ngày tết không được đi chơi xuân, bị trói đứng trong buồng tối, bị ASử đạp vào mặt...

+ Cuộc sống như trong ngục tù căn buồng Mị ở gợi không khí một nhà tù; Mị bị trình ma, cái ma vô hình trói buộc chặt cuộc đời nô lệ; Có lúc bị tê liệt về tinh thần, sống mà như chết...

Sự áp bức nặng nề dai dẳng của thế lực phong kiến và sự trói buộc của của thần quyền đã đẩy Mị vào cuộc sống vô cảm vô thức Số phận đau xót bất hạnh cực khổ của những người phụ nữ HMông trong xã hội phong kiến thực dân lúc bấy giờ

2: Nhân vật Mị – Sức sống tiềm tàng, khát vọng hạnh phúc và sự phản kháng mạnh mẽ:

2.1 Giới thiệu nhân vật Mị :

* Cô gái còn rất trẻ, đẹp, hồn nhiên trong sáng, giỏi thổi khèn, thổi sáo,làm nương rẫy, nhiều trai làng theo, Mị đã có người yêu; Mị là một cô gái ngoan, hiền, giỏi giang, hiếu thảo với bố mẹ; cô phải được hưởng cuộc sống tốt đẹp hạnh phúc.

* Nhưng vì món nợ của bố mẹ Mị ngày xưa vay của bố thống lí Pá Tra nay Mị phải “trả thay”, và cô bị bắt về làm dâu ( vợ ASử ) - dâu gạt nợ Cô gái trẻ đẹp giỏi giang vì món nợ truyền kiếp bị đẩy vào con đường làm dâu, dâu gạt nợ cho kẻ giàu có nhất Hồng Ngài .

2.2. Sức sống tiềm tàng và khát vọng hạnh phúc (Đêm tình mùa xuân)

* Lúc đầu cô khóc không phải cô nhớ nhà, nhớ cha mẹ mà là tiếng khóc tức tưởi của một người con gái phải chịu những bất hạnh. Sau đó Mị trốn về nhà với nắm lá ngón trên tay lạy chào bố mẹ để tự tử; nhưng “ không được con ơi”, Mị không thể chết được. Mị phải trở lại sống như một súc nô trong nhà thống lí PáTra.→Không chấp nhận kiếp trâu ngựa Mị định tìm tới cái chết → sức phản kháng mạnh mẽ

* “Năm ấy tết đến, Mị cũng uống rượu, uống ừng ực từng bát” như đang kìm nén một điều gì đó; lòng Mị đang sống lại thời con gái; tai văng vẳng nghe thấy tiếng sáo gọi bạn tình nơi đầu núi, đầu làng rập rờn trong đầu Mị

+ Hồng Ngài ăn tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió và rét rất dữ dội, những chiếc váy hoa xòe như những con bướm sặc sỡ… đám trẻ chơi tết đánh quay, cười ầm trên sân nhà

+ Những đêm tình mùa xuân của một thời con gái trở lại, lòng đột nhiên vui sướng thấy mình còn trẻ lắm, tiếng sáo gọi bạn tình và lời hát yêu cứ văng vẳng; muốn đi chơi, Mị vào buồng, thắp sáng ngọn đèn mỡ, quấn tóc, chuẩn bị váy áo cho cuộc chơi trong đêm tình mùa xuân.

+ Khát vọng hạnh phúc trở về và bùng lên trong lòng Mị, khi tết đến, mùa xuân đã về, tiếng sáo réo rắt gọi bạn tình, bữa rượu bên bếp lửa … làm Mị thức tỉnh, ý thức trong tiềm thức trỗi dậy những hồi ức, những kĩ niệm trở về với chính mình, Mị ý thức đựơc thời gian, ý thức được thân phận mình.

Mị có những hình dung rất cụ thể của con người cảm thấy cuộc sống còn có ý nghĩa. ASử xuất hiện và “Trói đứng Mị vào cột quấn tóc Mị lên cột” Song Mị vẫn “không biết mình đang bị trói”vẫn nghe tiếng sáo văng vẳng nơi đầu núi, đầu làng và rập rờn trong đầu mình; tiếng sáo và lời hát yêu vẫn đưa Mị vào những cuộc chơi, Mị bước chân đi nhưng những sợi dây trói kéo cô về với thực tại, Mị dần dần trở lại với thực tại và hiểu rõ thân phận mình, ý thức được không bằng con trâu, con ngựa…

* Tô Hoài miêu tả diễn biến tâm trạng của Mị bằng một đoạn văn khá sắc sảo và dường như nhà văn để Mị sống trong tâm linh sâu thẳm với những gì đẹp nhất mà tiềm thức khơi dậy; Mị trở về với thực tại và ý thức rõ thân phận của mình “không được bằng con ngựa con trâu”.Không khí đêm tình mùa xuân; tiếng sáo gọi bạn tình như một luồng gió mới thổi lớp tro tàn bùng lên ngọn lửa của lòng ham sốngcủa một khát vọng hạnh phúc vốn vẫn tiềm tàng trong con người Mị.

2.3. Sức phản kháng mạnh mẽ - sự trỗi dậy của lòng ham sống khát vọng sống( Cởi trói cứu Aphủ )

* Lời kể truyện trầm hẳn xuống khi cuộc đời Mị trở lại làm dâu lầm lũi vô thức vô cảm

+ Không ý thức mặc cho mọi sự ngang trái xảy ra. Đêm nào Mị cũng dậy thật sớm, ngủ thật muộn đến bên bếp lủa hơ tay sưởi lửa, mặc cho nhiều lần ASử đi chơi về đánh dúi dụi. Khi APhủ xuất hiện rồi bị trói vào cột cạnh khu bếp Mị cũng mặc, dửng dưng vô cảm vô thức

+ Một đêm như bao đêm, Mị “lé mắt… đã xám đen lại” những giọt nước mắt tuyệt vọng của người bị trói rơi xuống “cốc nước” cõi lòng Mị, tràn ra lay động thức tỉnh, Mị xúc động, nhớ lại mình, thương mình cũng từng bị trói, Mị đồng cảm với người bị trói, nhận ra tội ác của bọn thống trị; tình thương, sự đồng cảm giai cấp, niềm khát khao tự do mãnh liệt làm Mị không thấy sợ, Mị rón rén bước ra rút con dao nhỏ cắt lúa cắt nút dây cởi trói cứu APhủ và tự giải thoát cuộc đời mình

+ APhủ vùng lên chạy trốn; Mị hoảng hốt, thì thào thúc giục “đi mau”, đứng lặng rồi vụt chạy“APhủ cho tôi đi với, ở đây thì chết mất”; Mị trước cái chết; lòng ham sống, khát khao tự do, hạnh phúc bùng lên, Mị chạy theo APhủ tự giải thoát cuộc đời mình

3: Nhận xét, đánh giá: Ngòi bút phân tích diễn biến tâm lí sắc sảo, tinh vi thể hiện rất rõ sức phản kháng mạnh mẽ khát khao sống thôi thúc Mị. Điều đó chứng tỏ sức sống, khát vọng hạnh phúc, tự do luôn tiềm tàng trong Mị, trong mỗi con người; Hành động táo bạo trái với con người Mị nhưng đó chính là tình thương , sự đồng cảm giai cấp, số phận và khát khao tự do

Nhân vật APhủ

Tác giả giới thiệu bằng những câu văn ngắn, một vài đoạn văn trong phần đầu tác phẩm giúp người đọc hình dung về con người, tính cách APhủ – một chàng trai của núi rừng Tây Bắc,tiêu biểu cho lớp thanh niên Hmông

1.Số phận éo le:

Mồ côi cha mẹ, họ hàng không còn ai, bị bắt bán cho kẻ khác, làm thuê làm mướn hết nhà này sang nhà khác; không chịu được bỏ lên núi cao và về với các bản làng.à Là nạn nhân của các hủ tục lạc hậu và cường quyền phong kiến miền núi

2.Hiện thân đau khổ của một nông nô miền núi:

+Chàng trai khỏe mạnh, giỏi các việc và giỏi săn bắn nhưng nghèo, mồ côi nên không thể lấy nổi vợ

+ Chỉ vì đánh ASử- con quan, con nhà giàu , APhủ bị bắt đánh phạt vạ một cách nhục hình và trờ thành người ở không công cho nhà thống lí

+Bị cúng trình ma với lời nguyền độc địa của thống lí đời mày, đời con may, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ tao mới thôi

+APhủ bị trói đứng trở thành vật đền mạng cho con bò bị hổ ăn thịt

3.Sức mạnh phản kháng, sức mạnh vùng lên

+ Không thể chịu đựng sự ngang trái, APhủ đã đánh lại ASử

+ Khi bị đánh, phạt vạ APhủ chỉ im như bức tượng đá

+ Đươ 5 Mị cắt dây cởi trói APhủ khuỵu xuống vì kiệt sức, sau đó quật sức vùng lên chạy trốn cái chết, sau đó là đến với con đường giải phóng.

Có sức khỏe phi thường, dũng cảm, yêu tự do, yêu lao động; có sức sống tiềm tàng, mạnh mẽ và một khát vọng hạnh phúc.

Kết bài:

         + Nghệ thuật xây dựng nhân vật có nhiều điểm đặc sắc ( APhủ miêu tả qua hành động, Mị chủ yếu khắc họa tâm tư ); trần thuật uyển chuyển linh hoạt; cách giới thiệu nhân vật đầy bất ngờ tự nhiên mà ấn tượng; kể chuyện ngắn gọn dẫn dắt tình tiết khéo léo; biệt tài miêu tả thiên nhiên và phong tục, tập quán của người dân miền núi; ngôn ngữ sinh động, chọn lọc và sáng tạo, câu văn giàu tính tạo hình và thấm đẫm chất thơ

         + Tô Hoài xây dựng thành công nhân vật Mị – APhủ tiêu biểu cho số phận đau khổ của người dân lao động miền núi; phản ánh con đường giải phóng và ngợi ca vẻ đẹp, sức sống tiềm tàng mãnh liệt của họ; tố cáo tội ác của bọn phong kiến thực; tác giả cảm thông, chia sẻ, phát hiện và ngợi ca: con người dù bị đẩy vào hoàn cảnh bi đát nhất song vẫn luôn hướng tới cuộc sống tự do; chân chính Gía trị hiện thực sâu sắc và giá trị nhân đạo cao cả.

Bài 3: RỪNG XÀ NU - NGUYỄN TRUNG THÀNH

+ Nguyễn Trung Thành (Nguyễn Ngọc Báu ) 1932 – Quảng Nam là nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến, gắn bó mật thiết với mảnh đất Tây Nguyên anh hùng.

+ Rừng xà nu một truyện ngắn tiêu biểu viết vào mùa hè năm 1965 – ở khu căn cứ chiến trường miền Trung trung bộ, về sự kiện nổi dậy của một buôn làng Tây Nguyên trước đồng khởi, câu chuyện về cuộc đời Tnú và dân làng Xô man nổi dậy làm cách mạng.

Hình tượng cây xà nu

a.Giới thiệu:

+ Họ thông, lá hình kim, thân gỗ, nhựa có giá trị cao, sống nhiều tập trung ở vùng đất Kon Tum một loài cây đặc thù, tiêu biểu; là hình tượng nổi bật xuyên suốt trong truyện ngắn

+ Cây xà nu đã trở thành một phần máu thịt trong đời sống vật chất và tinh thần của dân làng Xô Man

+ Qua hình tượng cây xà nu nhà văn tạo dựng bối cảnh hùng vĩ và hoang dã đậm chất Tây Nguyên; gắn bó với đời sống của người dân; là chứng nhân những sự kiện quan trọng của làng Xô Man trong kháng chiến

b. Cây xà nu là biểu tượng cho tinh thần buất khuất, sức sống bất diệt của dân làng Xô Man và nhân dân Tây Nguyên trong chiến tranh cách mạng.

* Mở đầu và kết thúc truyện ngắn

+ Cây xà nu bạt ngàn như một điệp khúc ca ngợi

+ Tác giả sử dụng từ Đồi – mở đầu và từ Rừng - kết thúc,

                                 → sức sống mãnh liệt, bất diệt của cây xà nu

* Miêu tả sự hiện diện của cây xà nu trong suốt truyện ngắn :

+ Nhựa xà nu đặc quánh, thơm tho …

+ Lửa xà nu trong mỗi bếp gia đình, bếp nhà rông; ngọn lửa soi cho thanh niên lên núi Ngọc Linh lấy đá về mài vũ khí chuẩn bị đánh giặc; 10 ngọn đuốc trên 10 đầu ngón tay Tnú; những đuốc lửa thành rừng lửa

soi cho dân làng vùng lên đánh giặc …àXà nu tham gia vào mọi sự kiện quan trọng trong đời sống vật chất, tinh thần của người dân và của làng Xô man

                                 → Một sự tồn tại kì diệu của cây xà nu trước sự hủy diệt của kẻ thù

* Miêu tả đặc tính của cây xà nu trong sự ứng chiếu

+ Ham ánh sáng, khí trời; sinh sôi nảy nở rất nhanh và tự làm lành vết thương cho chính mình; sức sống mạnh mẽ, sức vươn lên trỗi dậy mãnh liệt

+ Luôn miêu tả trong sự ứng chiếu với cuộc đời và số phận những con người làng Xô man như cụ Mết; Tnú, Mai, Dít; bé Heng.

         → Đau thương mất mát; kiên cường, bất khuất; khát vọng tự do, hướng tới cách mạng; cho các thế hệ con người làng Xô man.

c.Biểu tượng cho những phẩm chất tốt đẹp của người dân làng Xô Man, người dân Tây nguyên:

+ Khát vọng tự do: ham ánh sáng, nhọn hoắt như mũi tên lao vút lên bầu trời

+Tình yêu thương, đoàn kết; Cây xà nu đan xen vào nhau, kết lại với nhau thành một khối vững chắc

+Sức mạnh của con người Tây nguyên buất khuất kiên cường, thùy chung với cách mạng. Không có cây nào mạnh bằng cây xà nu đất ta

d. Nghệ thuật miêu tả vừa bao quát lẫn cụ thể; cảm nhận qua nhiều giác quan;miêu tả trong sự so sánh, đối chiếu và sử dụng các biên pháp nghệ thuật khác như hình thức ẩn dụ, nhân hóa, tưởng tượng; giọng văn biểu cảm

Ä Vẻ đẹp, những thương tích mà rừng xà nu phải gánh chịu, những đặc tính của xà nu… là hiện thân cho vẻ đẹp, những mất mát, đau thương, sự khát khao tự do và sức sống bất diệt của dân làng Xô Man nói riêng, đồng bào Tây Nguyên nói chung

Kết bài:

Không khí màu sắc đậm chất Tây Nguyên thể hiện ở bức tranh thiên nhiên, ở ngôn ngữ, tâm lí, hành động của các nhân vật; xây dựng thành công các nhân vật vừa có nét cá tính sống động vừa mang những phẩm chất có tính khái quát, tiêu biểu; khắc họa thành công hình tượng cây xà nu- một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc – tạo nên màu sắc sử thi và sự lãng mạn bay bổng cho thiên truyện; lời văn giàu tính tạo hình, giàu nhạc điệu, khi thâm trầm khi thiết tha trang nghiêm.Ngợi ca tinh thần bất khuất, sức mạnh quật khởi của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói riêng, đất nước, con người Việt Nam nói chung trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và khẳng định chân lí của thời đại: để giữ gìn sự sống của đất nước và nhân dân, không có cách nào khác là phải cùng nhau đứng lên cầm vũ khí chốnglại kẻ thù; mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

Nhân vật Tnú

a. Giới thiệu: Tnú là đứa con của làng Xô Man; giầu tình yêu thương ,thủy chung với CM , có ý chí nghị lực, tính kỉ luật cao; dũng cảm,thông minh, căm thù giặc sâu sắc, có ý thức cộng động …

b. Tnú là một người thông minh, gan góc, dũng cảm, mưu trí; có tính kỉ luật cao, tuyệt đối trung thành với cách mạng:

* Lúc nhỏ cùng Mai vào rừng tiếp tế cho anh Quyết; được dạy con chữ ; làm liên lạc; bị bắt

* Thoát tù trở về cùng Cụ Mết – già làng và thanh niên chuần bị vũ khí đánh giặc

c. Tnú có trái tim yêu thương và sục sôi căm thù giặc: sống rất nghĩa tình và luôn mang trong mình ba mối thù: Thù của bản thân, thù của gia đình, thù của buôn làng

* Cùng Mai nên vợ chồng

* Khi kẻ thù lên bắt vợ con đánh dã man Tnú nhảy ra cứu bị bắt, mười ngón tay bị đốt; dân làng nhất tề vùng lên tiêu diệt kẻ thù; Tnú được cứu; Tnú đi giải phóng

* Ba năm sau trở về thăm làng – giờ đã đổi khác làng trong tư thế chiến đấu giành thắng lợi.

d. Tnú tiêu biểu cho những nét tính cách của con người Tây Nguyên:

+Trung thực, trong sáng; trung thành với CM; tính kỉ luật cao.

+có hành động quyết liệt, dứt khoát, bất khuất, kiên cường;

+có khát vọng tự do, sức sống mãnh liệt;

+có tình yêu thương sâu nặng, đằm thắm, thủy chung và lòng căm thù cháy bỏng.

Ä Số phận, sự trưởng thành của Tnú tiêu biểu cho số phận, con đường đi của các dân tộc Tây Nguyên; là một trong những hình tượng thành công xuất sắc của Nguyễn Trung Thành, của văn học chống Mĩ cứu

nước. Cuộc đời bi tráng và con đường đến với cách mạng của người dân Tây Nguyên, góp phần làm sáng tỏ chân lí của thời đại: phải dùng bạo lực cách mạng để tiêu diệt bạo lực phản cách mạng; đấu tranh vũ trang là con đường tất yếu để tự giải phóng .

e. Mối quan hệ: Hình tượng rừng xà nu và Tnú có mối quan hệ khắng khít, bổ sung cho nhau. Rừng xà nu chỉ giữ được màu xanh bất diệt khi có những con người biết hi sinh như Tnú; sự hi sinh của những con người như Tnú góp phần làm cho những cánh rừng mãi mãi xanh tươi.

Một số nhân vật:

1. Cụ Mết:

+Tiêu bểu cho truyền thống của làng Xô Man:

++Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ- cái cầu nối quá khứ và hiện tại

++Như một bảo tàng sống của làng Xô Man, của người dân Strá; lịch sử chiến đấu của làng qua lời kể thấm sâu vào các thế hệ

+ +Luôn tự hào trước truyền thống quê hương, có ý thức giáo dục cho con cháu

+Tuyệt đối trung thành với cách mạng

++ Nuôi, canh gác cho các cán bộ trước sự khủng bố của kẻ thù

++Luôn tin tưởng vào Đảng

+ Là linh hồn của làng Xô Man:

++Lãnh đạo dân làng chuẩn bị vũ khí, đi đầu trong cuộc đồng khởi

++Khí thế mạnh mẽ như thác rừng xà nu

2. Bé Heng: Người tiếp nối truyền thống cha anh..

2.Nhân vật Mai:

+ Lúc nhỏ cùng Tnú vào rừng nuôi cán bộ, rất nhanh nhẹn, học nhanh nhớ...

+ Lúc trưởng thành kết duyên cùng Tnú và họ có một đứa con; sống nghĩa tình, giàu tình yêu thương...

+ Khi kẻ thù lên bắt mẹ con Mai đánh đập dã man, chị quyết không khai báo, lấy thân mình bảo vệ con đến phút cuối cùng

+ Đến chiều mẹ con Mai mất trong nỗi đau và sự vùng dậy của cả dân làng tiêu diệt kẻ thù.

3.Nhân vật Dít:

+ Người con gái của làng Xô Man gan dạ, dũng cảm ngay từ khi còn bé kẻ thù bắt trói vào cột giữa sân và chúng bắn đạn cày ngay chân, sượt qua tai nhưng Dít vẫn đứng im lặng...

+ Lớn lên trở thành cô bí thư chi bộ, cùng với cụ Mết, thanh niên tổ chức cho dân làng đánh giặc bảo vệ cuộc sống...

+ Cô gái có tính kỉ luật cao, thủy chung với cách mạng, nguyên tắc hơi cúng nhắc; giầu tình cảm với dân làng, quê hương và với cả Tnú...

Bài 4: NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH (TRÍCH) - NGUYỄN THI

+ Nguyễn Thi 1928 – 1968; Quê Nam Định sống chủ yếu ở Nam Bộ.Con người đa tài làm thơ, vẽ tranh , soạn bài hát, điệu múa; cuộc đời nhiều bất hạnh; tâm hồn giầu suy tư, hiểu đời, hiểu người sâu sắc; gắn bó với nhân dân Miền Nam.Là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng Miền Nam thời kì chống Mĩ cứu nước; ông gắn bó sâu sắc với nhân dân Nam Bộ và thực sự trở thành nhà văn của nông dân Nam Bộ.Là cây bút có biệt tài phân tích tâm lí con người, có khả năng nhập sâu vào nội tâm nhân vật; có cá tính mãnh liệt.

+ Tác phẩm Những đứa con trong gia đình là một trong những truyện ngắn khá đặc sắc của nhà văn; có giá trị nghệ thuật tạo tình huống truyện, cách trần thuật và xây dựng nhân vật; mang nội dung lòng yêu nước, căm thù giặc, ý chí, tinh thần và hành động chiến đấu thể hiện phẩm chất của CNAHCM Việt Nam

Nhân vật Việt

@ Hoàn cảnh gia đình , quê hương đất nước: Từ mấy thế hệ đã phải chịu những mất mát đau thương; thế hệ chị em Chiến ,Việt cũng mất cha mẹ vì chiến tranh. Cuốn sổ gia đình ghi những sự kiện, sự việc xảy ra mỗi dòng chữ đều có máu và nước mắt à một gia đình có truyền thống cách mạng – tiêu biểu cho những gia đình nông dân Nam Bộ trong chiến tranh giải phóng

@ Chàng trai mới lớn hiếu động, rất hồn nhiên, tính tình trẻ con, vô tư – không sợ chết nhưng lại rất sợ ma, thích bắt ếch, câu cá, bắn chim – cây ná thun; rất hiếu thắng – tranh giành phần hơn với chị .

@ Có một tình yêu thương gia đình sâu đậm, thủy chung với quê hương và cách mạng

+ Rất yêu quý chị và gia đình: Lưu ý đoạn văn tả cảnh buổi sáng trước khi lên đường đi bộ đội hai chị em khiêng bàn thờ ba má sang gửi nhàchú Năm: gây xúc động nhất và hay nhất thể hiện tình cảm của hai chị em , trách nhiệm của người chị và tình thương chị ở người em; lòng căm thù giặc được cụ thể hóa như rờ được và đang đè nặng trên hai vai

+ Chuẩn bị lên đường đi bộ đội nhưng vẫn còn trẻ con – vô tư, ừ ào cho qua khi chị bàn chuyện gia đình rồi ngủ lúc nào không hay

+ Trở thành người lính vẫn không quên cây ná thun trong túi quần; không cho ai biết mình có chị – sợ mất

@ Căm thù giặc sâu sắc, khát khao chiến đấu dũng cảm,có một tính cách anh hùng, tinh thần chiến đấu gan dạ, kiên cường: Trong Việt có dòng máu gia truyền của những con người gan góc, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc: khi nhỏ dám tấn công kẻ giết cha, lớn lên xin đi tòng quân, chiến đấu dũng cảm, bị thương nặng nhưng gắng vượt qua, bị lạc đồng đội vẫn không sợ, lại sợ ma.

@Tác giả để cho Việt tự kể chuyện về mình bằng một ngôn ngữ , giọng điệu riêng và qua đó nhân vật hiện lên cụ thể, sinh động

ÜChàng trai mới lớn còn rất vô tư hồn nhiên và trẻ con , gan dạ dũng cảm à tiêu biểu cho thế hệ trẻ VN bước vào cuộc chiến rất sớm còn vô tâm với mọi mối quan hệ gia đình xã hội nhưng rất nghiêm túc trong suy nghĩ về kẻ thù về quê hương đất nước. Vẻ đẹp của nhân vật việt tiêu biểu cho vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân nam Bộ: Giầu lòng yêu thương, có truyền thống yêu nước, căm thù giặc, thủy chung son sắt với cách mạng, quê hương.

Nhân vật chị Chiến :

@ Hoàn cảnh gia đình, quê hương đất nước: Từ mấy thế hệ đã phải chịu những mất mát đau thương; thế hệ chị em Chiến,Việt cũng mất cha mẹ vì chiến tranh. Cuốn sổ gia đình ghi những sự kiện, sự việc xảy ra mỗi dòng chữ đều có máu và nước mắt à một gia đình có truyền thống cách mạng – tiêu biểu cho những gia đình nông dân Nam Bộ trong chiến tranh giải phóng

@ Là cô gái mới lớn tính khí vẫn con nét trẻ con nhưng cũng là người chị biết nhường em,biết lo toan, tháo vát; là người chị thương em, lo lắng cho em, nhường nhịn em song cũng nhiều lúc vẵn còn tranh giành phần công với em

@ Là người con gái có những nét giống mẹ kiên nhẫn, gan lì, chăm chỉ, đảm đang tháo vát, nhưng cũng có những nét riêng.

@ Chiến căm thù giặc sâu sắc, gan góc, dũng cảm, lập được nhiều chiến công.

Ü   Hình ảnh cô gái Việt Nam mà truyền thống và thời đại đã sản sinh ra

Nhân vật Má Việt và chú Năm

@ Chú Năm :

+ Tác giả cuốn sổ ghi chép tội ác của kẻ thù và những chiến công của các thành viên trong gia đình

+ Là người lao động chất phác, giầu tình cảm; tâm hồn luôn bay bổng qua các điệu hò

@ Má Việt

+ Gan góc, căm thù giặc

+ Thương chồng con, đảm đang tháo vát, giàu tình cảm

+ Nén những thương đau, mất mát nuôi con và đánh giặc

Kết bài

+ Cách kể, lời kể, giọng kể hấp dẫn; phân tích tâm lí sâu sắc, xây dựng tình huống truyện đặc biệt; chi tiết được chọn lọc vừa cụ thể vừa giàu ý nghĩa, gây ấn tượng mạnh. Ngôn ngữ bình dị, phong phú, giàu giá trị tạo hình và đậm sắc thái Nam bộ. Giọng văn chân thật, tự nhiên, nhiều đoạn gây xúc động mạnh;

+ Qua câu chuyện về những con người trong một gia đình nông dân Nam Bộ có truyền thống yêu nước, căm thù giặc,thủy chung với quê hương, với cách mạng, nhà văn khẳng định: sự hòa quyện giữa tình cảm gia đình và tình yêu nước; giữa truyền thống gia đình và truyền thống dân tộc đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước

So sánh Những đứa con trong gia đình Rừng xà nu

I.Giống nhau:

1, Cả hai tác phẩm đều là những bản anh hùng ca hào hùng, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng của những người con của đất rừng miền Nam trong lửa đạn sáng ngời. Những con người mang vẻ đẹp bất khuất, kiên cường cùng lòng căm thù giặc sâu sắc ngùn ngụt, yêu quê hương tha thiết, giàu tình nghĩa, thủy chung, son sắt với gia đình, cách mạng.

2, Hai tác phẩm đều là truyện ngắn rất thành công của mỗi tác giả, khi mà tài năng của họ đã đạt đến đỉnh cao

3. Bằng tài năng nghệ thuật đặc sắc cùng những nét cảm nhận riêng biệt vê hai vùng đất Tây Nguyên và Nam Bộ. Cả hai nhà văn đã khắc họa thành công những nhân vật điển hình, đại diện cho những mảnh đất và cũng là đại điệ cho những con người Việt Nam nói chung trong thời kì kháng chiến chống Mỹ

II.Khác nhau

1, Rừng xà nu

* Giàu không khí Tây Nguyên và giàu chất sử thi hùng tráng trang nghiêm

* Không khí sử thi ấy đã chi phối nhà văn trong việc xây dựng những nhân vật điển hình mang màu sắc được lý tưởng hóa phù hợp với nội dung và chủ đề tư tưởng của tác phẩm

* Những nhân vật mà Nguyễn Trung Thành xây dựng không chỉ mang tính cá nhân mà còn là đại diện cho cả một dân tộc.

* Không chỉ ở hình tượng nhân vật mà ngay cả trong giọng điệu của câu chuyện cũng mang tính chất sử thi hùng tráng. Tuy rằng là câu chuyện xảy ra chưa lâu nhưng đâu đó vẫn có nét sử thi

2, Những đứa con trong gia đình.

* Không phải là nhà văn gốc Nam Bộ nhưng Nguyễn Thi lại gắn bó sâu nặng với đất rừng phương Nam, chẳng thế mà ông được mệnh danh là nhà văn của người nông dân Nam Bộ. Tiêu biểu là NĐCTGĐ với những hình ảnh mang đậm nét đời thường, gần gũi với cuộc sống

* Qua hệ thống hình tượng nhân vật của tác phẩm, Nguyễn Thi nhằm giải thích về những phẩm chất anh hùng của những đứa con trong gia đình. Cội nguồn truyền thống của gia đình đã tạo nên những phẩm chất tuyệt vơi cho những đứa con

* Câu chuyện NĐCTGĐ được xây dựng qua một điểm nhìn rất độc đáo đó là sự hồi tưởng, nhớ lại của Việt. Khác với rừng xà nu, khi mà cụ Mệt là người nhớ lại thì đây lại là chính những người trong gia đình nhớ lại những kỉ niệm gần gũi thân thương, rất "thỏn mỏn" nhưng lại mang ý nghĩa thẩm mỹ và nhân sinh sâu sắc.

* Đặc sắc trong cách xây dựng hình tượng nhân vật của Nguyễn Thi là phân tích tâm lý nhân vật, nhưng chi tiết tưởng như rất bé nhưng lại có những ý nghĩa to lớn, đi liền với nội tâm nhân vật.

* Nếu như câu chuyện của Cụ Mết là câu chuyện đại diện cho một tộc người thì trong tác phẩm không dừng lại ở một chủ thể cụ thể nào. Nguyễn Thi như xây dựng một con sông và muốn mọi người góp sức mình để xây dựng nên hàng trăm con sông khác 

Bài 5: CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA - NGUYỄN MINH CHÂU

+ Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989 ); Nghệ An, là một con người luôn trăn trở về số phận của nhân dân, trách nhiệm của người cầm bút; tâm huyết, tài năng, bản lĩnh; trước những năm 1980 viết theo khuynh hướng sử thi và tính trữ tình lãng mạn; sau những năm1980 là cảm hứng thế sự với những vấn đề về đạo đức xã hội, triết lí nhân sinh; là người mở đường tinh anh và tài năng; đạt giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT năm 2000.

+ Văn bản Chiếc thuyền ngoài xa là một trong những truyện ngắn được sáng tác1983, tiêu biểu cho hướng tiếp cận thế sự thuộc giai đoạn 2; thể hiện rõ nhận thức về thực tế cuộc sống với những nghịch cảnh đau đớn, xót xa nhưng vẫn được chấp nhận và mối quan hệ giữa nghê thuật với đời sống; tấm lòng thiết tha với cuộc sống hạnh phúc của mỗi con người của nhà văn.

Hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh

1. Bức tranh thiên nhiên hoàn mĩ:

@ Một cảnh đắt trời cho là cảnh chiếc thuyền lưới vó hiện trong biển sớm mờ sương có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào … với người nghệ sĩ , khung cảnh đó chứa đựng chân lí của sự hoàn

thiện, làm dấy lên trong Phùng những xúc cảm thẩm mĩ, khiến tâm hồn anh như được gột rửa, thanh lọc; như là một bức tranh mực tàu của danh họa thời cổ- một sự miêu tả ước lệ tượng trưng thật tuyệt vời

+ Mũi thuyên in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vái bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum; một sự quan sát, miêu tả rất tinh tế và sâu sắc; thuyền đang hướng mặt vào bờlàm cho bức tranh thêm sống động từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp - một vẻ đẹp đơn giản và toàn bích

+ Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh một con dơi.

Ä So sánh, tạo hình; ca ngợi vẻ đẹp cổ điển mà lãng mạn của bức tranh lúc bình minh lên.

@ Cảm xúc của người nghệ sĩ:

+ Thắt trái tim; khám phá ra chân lí của sự hoàn thiện nghĩ rằng hiện thân của cái đẹp chính là đạo đức

+ Còn gì hạnh phúc hơn đối với người nghệ sĩ khi bắt gặp một cảnh tượng tuyệt đẹp đem đến sự trong trẻo , bay bổng trong tâm hồn.        

2. Những nghịch lí ẩn sau bức tranh: Người nghệ sĩ nhiếp ảnh bắt gặp cảnh Người đàn ông (người chồng) đánh người đàn bà (người vợ); người đàn bà cam chịu, không chống trả, không chạy trốn; cậu bé Phác (người con trai) phản ứng và bị người đàn ông (người cha) đánh thô bạo; người mẹ đau đớn xót xa (khóc).

@ Một người đàn ông và một người đàn bà rời chiếc thuyền lên bờ

* Người đàn ông ( người chồng, người cha )

+ Ngoại hình: lưng rộng, cong như chiếc thuyền; tóc tổ quạ; chân đi chữ bát; lông mày cháy nắng rủ xuống mặt đầy vẻ dữ dằn; khuôn ngực trần vạm vỡ…

+ Lời nói “ Cứ ngồi yên đấy. Động đậy tao giết cả mày đi bây giờ”, “ Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết đi cho ông nhờ!”

+ Hành động: hùng hổ, mặt đỏ gay gắt, dung thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà( người vợ); cho thằng bé hai cái tát khiến nó ngã dúi rồi bỏ đi về chiếc thuyền.

à Tác giả sử dụng biện pháp miêu tả, so sánh rất cụ thể, chi tiết giúp người đọc hình dung ra một người đàn ông lực lưỡng, vũ phu nhưng xét cho cùng chỉ để giải tỏa tâm trạng buồn bực vì công việc vất vả, gia cảnh nghèo túng, đông con.

* Người đàn bà ( người vợ, người mẹ)

+ Ngoại hình: Trạc ngoài 40, cao lớn với những đường nét thô kệch, khuôn mặt rỗ, mệt mỏi, tái ngắt.

+ Khi bị đánh: Cam chịu, đầy nhẫn nhục, không hề kêu, không chống trả, không chạy trốn .

Khi thấy đứa conxuất hiện và bị đánh: Xấu hổ, đau đớn; mếu máo, ôm chầm rồi lại buông, chắp tay vái , rồi lại ôm chầm lấy; bất ngờ buông ra, đi thật nhanh theo chồng trở lại chiếc thuyền .

à Một người đàn bà ít duyên, lam lũ, vất vả , thương con

* Đứa con Tên Phác:

+ Chạy một mạch, giận dữ, căng thẳng, như viên đạn lao tới đích, nhảy xổ vào người đàn ông, giằng được chiếc thắt lưng, dướn thẳng người vung khóa sắt quật vào ngực người đàn ông ( người cha).

+ Khẽ sờ tìm trên khuôn mặt người mẹ như muốn lau đi những giọt nước mắt.

à Thằng Phác vừa là nhân chứng , vừa là hậu quả của tình trạng bạo lực gia đình . Tâm hồn đã bị vấy bẩn, chứa đầy sự căm phẫn, thù hận

* Nhận xét: Đây là một nghịch lí giữa cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnhvà cảnh con người lam lũ, vất vả, khổ đau Phơi bày tình trạng bạo lực gia đình – một vấn đề nhức nhối trong xã hội; cho người đọc thấy

cuộc sống người dân sau năm 1975, đất nước đã được giải phóng nhưng còn nhiều nghịch lí và bất cập mà mỗi con người phải chấp nhận.

@ Một cảnh tượng phi thẩm mĩ: một người đàn bà ít có duyên, mệt mỏi - một gã đàn ông to lớn giận dữ; một cảnh tượng phi nhân tính: người chồng đánh vợ một cách thô bạo, dữ dằn; đứa con thương mẹ đánh lại cha giống như trò đùa quái ác, làm cho người nghệ sĩ nhiếp ảnh ngơ ngác không tin nổi vào mắt mình.

Ü Qua hai phát hiện của người nghệ sĩ, nhà văn chỉ ra: cuộc đời còn chứa đựng nhiều những nghịch lí, mâu thuẫn; không thể đánh giá con người, cuộc sống ở dáng vẻ bề ngoàimà phải đi sâu tìm hiểu, phát hiện bản chất ở bên trong.

Nghệ sĩ nhiếp ảnh tên Phùng:

@ Anh phóng viên – bạn cùng chiến đấu của Đẩu – chánh án tóa án huiuện vùng biển, đi tìm ảnh cho tòa soạn; người chứng kiến cảnh buổi sớm tuyệt đẹp (ngoài xa) và hành động của người đàn ông đánh người đàn bà (ở gần)

@ Hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh ( Phần trên)

@ Lắng nghe những điều từ người phụ nữ, Phùng đi ttừ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác; nỗi xúc động tràn ngập tâm hồn anh . Đằng sau vẻ ngồi xấu xí, thô kệch của người đàn bàlạc hậu kia lại là những tình thương yêu, lòng vị tha, đức hy sinh của người mẹ cao cả. Câu chuyện về cuộc đời đáng thương của người đán bà hàng chài ẩn chứa những triết lí sâu sắc về cuộc sống và con người .

@ Câu chuyện đã giúp nghệ sĩ Phùng hiểu về người đàn bà hàng chài – một người phụ nữ nghèo khổ, nhẫn nhục, sống kín đáo, sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời, có tâm hồn đẹp đẽ, giầu đức hy sinh và lòng vị tha; về người chồng của chị- bất kể lúc nào thấy khổ quá là lôi vợ ra đánh; về chánh án tòa án huyện Đẩu – có

lòng tốt, sẵn sàng bảo vệ công lí nhưng kinh nghiệm sống chưa nhiều và về cả chính mình – sẵn sàng làm tất cả mọi việc vì sự công bằng nhưng lại đơn giản trong cách nhìn nhận và suy nghĩ.

Câu chuyện ở tòa án huyện

Nhân vật người đàn bà hàng chài:

Câu chuyện về cuộc đời đầy bí ẩn, éo le của một người đàn bà hàng chài nghèo khổ, lam lũ:

1.Giới thiệu: Cô gái phố huyện,nhà khá giả, ít duyên phải lòng anh hàng chài và sống cuộc sống chài lưới trên chiếc thuyền đông con; hiện tại là người đàn bà trạc ngoài 40 tuổi cao lớn với những đường nét thô kệch, mặt rỗ … mang những nét chung của ngưởi phụ nữ lao động vất vả, người phụ nữ hàng chài nhiều cực khổ.

2.Tác giả không đặt tên mà gọi theo tên công việc làm ăn và giới tính, người đã có chồng, Người đàn bà hàng chài vừa nêu được những nét cụ thể về cuộc đời, số phận của người phụ nữ trong xã hộicòn phải chịu nhiều những nghịch lí vừa khái quát được về những bất cập còn đang tồn tại trong cuộc sống mỗi con người...

3. Người đàn bà khi bị đánh: Cam chịu, đầy nhẫn nhục, không hề kêu, không chống trả, không chạy trốn .

Khi thấy đứa conxuất hiện và bị đánh: Xấu hổ, đau đớn; mếu máo, ôm chầm rồi lại buông, chắp tay vái , rồi lại ôm chầm lấy; bất ngờ buông ra, đi thật nhanh theo chồng trở lại chiếc thuyền .

à Một người đàn bà ít duyên, lam lũ, vất vả , thương con

4. Người đàn bà được mời lên công sở về chuyện gia đình:

* Thái độ lúc đầu có vẻ sợ sệt, lúng túng, rón rén ngồi vào mép ghế và cố thu người lại; sau khi nghe Đẩu khuyên bỏ nó, chị hướng về phía chánh án chắp tay vái lia lịa xin đừng bắt chị bỏ nó

* Người đàn bà ngẩng nhìn và mất hết vẻ ngoài khúm núm, sợ sệt lộ ra cái vẻ sắc sảo, chị cám ơn và trần tình về cuộc đời, số phận và hiện tại cuộc sống của chị và cả gia đình chị trên chiếc thuyền chật hẹp, vất vả kiếm sống nuôi sắp nhỏ

* Nguyên nhân: Vì sao chị không bỏ nó; cuộc sống mỗi ngày một khó khăn hơn; thuyền chật, con đông; kiếm miếng ăn mỗi ngày một chật vật...cần có người đàn ông cùng làm lụng nuôi sắp nhỏ; biển động dông gió cần có người đàn ông chèo lái; nhìn chồng con vui chị thấy hạnh phúc; trách nhiệm của mình hy sinh cho chồng con...

@ Nhận xét, đánh giá: Những lời tâm sự của chị giúp người đọc hiểu rõ cuộc sống hiện tại còn nhiều nghịch lí mà mỗi con người phải chấp nhận, nhưng họ cũng ý thức rất rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trong cái gia đình nhỏ bé ấy, thậm chí tìm thấy niềm vui để sống.

Có thể phân tích khác như sau:

@ Vốn sinh ra trong một gia đình khá giả nhưng có một ngoại hình xấu xí, mặt rỗ. Những nét thô kệch ấy , trong lam lũ, vất vả bởi lo toan và mưu sinh thường nhật, khi đã ngoài 40 tuổi lại càng hiện lên rõ nét

@ Sức chịu đựng và sự hy sinh thầm lặng của người đàn bà hàng chài làm nhiều người ngỡ ngàng

+ Vừa ở dưới chiếc thuyền lên đến bên chiếc xe rà phá mìn , chị đã bị chồng rút chiếc thắt lưng quật tới tấp; nhưng chị cam chịu, nhẫn nhục, không kêu rên, không chống trả và cũng không chạy trốn; chị chấp nhận đòn roi như một phần cuộc đời mình; chấp nhận nó như cuộc sống của người đi biển đánh cá phải đương đầu với sóng to gió lớn vậy

+ Tuy nhiên người đàn bà ấy cũng rất tự trọng; chỉ sau khi biết được hành động vũ phu của chồng đã bị thằng Phác và người khách ( nghệ sĩ Phùng) chứng kiến chị mới thấy “ đau đớn ...xấu hổ, nhục nhã” , một sự đau đớn về thể xác, giọt nước mắt của người đàn bà trào ra, chị không muốn bất cứ ai biết và thương xót kể cả đứa con và người xa lạ.

+ Khi ở tóa án huyện chính người phụ nữ ấy đã đem đến cho Phùng , Đẩu và những người khác cảm xúc mới

+ Tác giả nhấn vào sự thay đổi ngôn ngữ và tâm thế của người đàn bà hàng chài: Với Đẩu và Phùng lúc đầu chị thưa gửi, xưng con, có lúc đã van xin; nhưng khi đã lấy được tự tin, tâm thế thay đổi ,

người đàn bà đột ngột chuyển cách xưng hô “ Chị cám ơn các chú... cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ khó nhọc...” , một sự hoán đổi ngoạn mục

+ Người đàn bà chấp nhận đau khổ, coi nỗi khổ là lẽ đương nhiên, chị sống cho con chứ không phải cho mình; nếu phụ nữ chấp nhận người đàn ông uống rượu thì chị chấp nhận bị đánh , xin được lên bờ không để các con nhìn thấy, một cách ứng xử nhân bản

+Lẽ đời đã chiến thắng, cái tâm thương con, thiếu hiểu lẽ đời đã tạo nên uy quyền có sức mạnh riêng, làm cho Đẩu, phùng thức tỉnh và ngộ ra nhiều điều

@ Có thể nói người đàn bà hàng chài là biểu tượng của tình mẫu tử, chị quặn lòng vì thương con, chị đã can đảm và chấp nhận san sẻ nỗi đau với chồng , cảm thông và tha thứ cho chống. Với chị gia đình hạnh phúc là gia đình trọn vẹn các thành viên cho dù đây đó có những tính cách chưa hoàn thiện.

Nhận vật Đẩu – chánh án tòa án huyện vùng biển:

@ Anh bộ đội phục viên, có trình độ học vấn, nắm chắc pháp luật, sách vở; giải quyết công việc có tình có lí, luôn quan tâm đến số phận của những người lao động.

@ Biết rõ những hành động vũ phu thô bạo của người đàn ông, Đẩu đã gặp để giáo dục răn đe và mời người đàn bà lên công sở để giải quyết chuyện gia đình.

* Thân mật nhẹ nhàng và cũng tỏ rõ thái độ gay gắt với hành động của người đàn ông (Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng) Đẩu phân tích và khuyên người đàn bà tự giải phóng mình: Chị không sống nổi với cái lão đàn ông vũ phu ấy đâu, anh ngạc nhiên trước thái độ không bỏ nó của chị.Có lẽ Đẩu tin rằng giải pháp mình đưa ra là đúng, nhưng hóa ra lại phi thực tế, anh hiểu pháp luật nhưng “ đâu có hiểu cái việc làm ăn lam lũ, khó nhọc”

* Lắng nghe toàn bộ câu chuyện qua lời trần tình của người đàn bà, Đẩu và anh phóng viên hiểu nhiều điều: trong hiện tại cuộc sống còn nhiều nghích lí mà mỗi con người đang gánh chịu và chỉ biết trút tiếng

thở dài chua chát mà thôi. Thay đổi cách xưng hô với tư cách là chánh án tóa án huyện: Tùy bà! Chủ trương, nguyên tắc của chúng tôi là kêu gọi hòa thuậnSau khi nghe xong câu chuyện, một cái gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển: Giải quyết mọi bi kịch phải xuất phát từ thực tế cuộc sống trên cơ sở của luật pháp và sách vở (phải gắn với hiện thực cuộc sống đang diễn ra) Và nghệ thuật phải gắn với cuộc sống ; người nghệ sĩ phải nhìn cuộc sống từ nhiều cự li khác nhau.

@ Nhận xét: Qua câu chuyện về cuộc đời của người đàn bà hàng chài và cách ứng xử của các nhân vật , nhà văn muốn gửi đến ngườ đọc thông điệp: đừng nhìn cuộc đời, con người một cách đơn giản, phiến diện; phải đánh giá sự việc, hiện tượng trong các mối quan hệ đa diện, nhiều chiều.

Kết bài:

+ Tình huống truyện độc đáo có ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống; tác giả lựa chọn ngôi kể, điểm nhìn thích hợp, làm cho câu chuyện trở lên gần gũi, chân thực và có tính thuyết phục; nhân vật sinh động, phù hợp với tính cách; lời văn giản dị mà sâu sắc, đa nghĩa

+ Chiếc thuyền ngoài xa thể hiện những chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn về cuộc đời, nghệ thuật: nghệ thuật chân chính phải luôn gắn bó với cuộc đời; người nghệ sĩ cần phải nhìn nhận cuộc sống và con người một cách toàn diện, sâu sắc.

+ Tác phẩm cũng rung lên hồi chuông báo động về tình trạng bạo lực gia đình và hậu quả khôn lường của nó. Giá trị nhân văn cao đẹp.

VI. Cách viết một văn bản nghị luận về Văn học:

1.Bố cục bài viết

@ Mở bài :

+ Giới thiệu ngắn gọn và sinh động, hấp dẫn về tác giả và tác phẩm cần nghị luận

+ Nêu vấn đề nghị luận ( nội dung chính của tác phẩm, hoặc đoạn tác phẩm cần nghị luận)

+ Dẫn lại nguyên văn nhận xét có ở đề bài ( nếu có )

@ Thân bài :

+ Lí giải nhan đề, lời đề từ; những khái niệm xuất hiện trong đề ( nếu có ); trình bày khát quát những nét về nghệ thuật và nội dung chính cần nghị luận trong bài viết.

+ Chia tách vấn đề nghị luận thành các luận điểm, luận cứ; dùng lí lẽ và dẫn chứng làm sáng tỏ từng luận cứ và tổng hợp, nhận xét, đánh giá từng luận điểm

+ Tổng hợp, nêu nhận xét; bài học

@ Kết bài :  

         Đánh giá giá trị nghệ thuật và nội dung của vấn đề đã nghị luận và nâng cao .

2.Bài viết luôn luôn phải đảm bảo hai yêu cầu cơ bản:

a.Yêu cầu về kĩ năng: Biết cách viết bài văn nghị luận văn học; bố cục chặt chẽ; diễn đạt trôi chảy; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp thông thường.

b.Yêu cầu về kiến thức: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau song cần đạt các nội dung theo yêu cầu đề ra.

PHẦN LUYỆN TẬP

ĐỀ 1: Câu 2. ( 5,0 điểm )

Cảm nhận của anh/ chị về vẻ đẹp của thanh niên Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước qua hai đoạn trích sau:

“… Cây sắt thứ hai đập vào trước ngực Mai, chị lật đứa bé ra sau lưng. Nó lại đánh sau lưng, chị lật đứa bé ra trước ngực. Trận mưa cây sắt mỗi lúc một dồn dập, không nghe thấy tiếng thét của Mai nữa. Chỉ nghe đứa bé khóc ré lên một tiếng rồi im bặt. Chỉ còn tiếng cây sắt nện xuống hừ hự.
           Tnú bỏ gốc cây của anh. Đó là một cây vả. Anh đã bứt đứt hàng chục trái vả mà không hay. Anh chồm dậy. Một bàn tay níu anh lại. Tiếng cụ Mết nặng trịch:
             - Không được. Tnú! Để tau!
           Tnú gạt tay ông cụ ra. Ông cụ nhắc lại:
             - Tnú!
           Tnú quay lại. Ông cụ không nhìn ra Tnú nữa. Ở chỗ hai con mắt anh bây giờ là hai cục lửa lớn. Ông cụ buông vai Tnú ra.
           Một tiếng thét dữ dội. Chỉ thấy thằng lính giặc to béo nằm ngửa ra giữa sân, thằng Dục tháo chạy vào nhà ưng. Tiếng lên đạn lách cách quanh anh. Rồi Mai ôm đứa con chúi vào ngực anh. Hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai.
           - Đồ ăn thịt người, tau đây. Tnú đây…
         Tnú không cứu sống được Mai…
         … Thằng Dục không giết Tnú ngay. Nó đốt một đống lửa lớn ở nhà ưng, lùa tất cả dân làng tới, cởi trói cho Tnú, rồi nói với mọi người:
               - Nghe nói chúng mày đã mài rựa, mài giáo cả rồi phải không? Được, đứa nào muốn cầm rựa, cầm giáo thì coi bàn tay thằng Tnú đây.
               Nó hất hàm ra hiệu cho thằng lính to béo nhất. Chúng nó đã chuẩn bị sẵn cả. Thằng lính mở tút-se, lấy ra một chùm giẻ. Giẻ đã tẩm dầu xà-nu. Nó quấn lên mười đầu ngón tay Tnú. Rồi nó cầm lấy một cây nứa. Nhưng thằng Dục bảo:
             - Để nó cho tau!
             Nó giật lấy cây nứa.
             Tnú không kêu lên một tiếng nào. Anh trợn mắt nhìn thằng Dục. Nó cười sằng sặc. Nó dí cây lửa lại sát mặt anh:
             - Coi kỹ cái mặt thằng cộng sản muốn cầm vũ khí này xem sao nào. Số kiếp chúng mày không phải số kiếp giáo mác. Bỏ cái mộng cầm giáo mác đi, nghe không?
             Một ngón tay Tnú bốc cháy. Hai ngón, ba ngón. Không có gì đượm bằng nhựa xà nu. Lửa bắt rất nhanh. Mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc.
             Tnú nhắm mắt lại, rồi mở mắt ra, trừng trừng.
             Trời ơi! Cha mẹ ơi! Anh không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy ở trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi. Răng anh đã cắn nát môi anh rồi. Anh không kêu rên. Anh Quyết nói: “Người cộng sản không thèm kêu van…” Tnú không thèm, không thèm kêu van. Nhưng trời ơi! Cháy, cháy cả ruột đây rồi! Anh Quyết ơi! Không, Tnú sẽ không kêu! Không!...”

( Trích Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành, Ngữ văn 12,Tập hai,

NXB Giáo dục Việt Nam, 2015)

“...Việt tỉnh dậy lần thứ tư, trong đầu còn thoáng qua hình ảnh của người mẹ. Đêm nữa lại đến. Đêm sâu thăm thẳm, bắt đầu từ tiếng dế gáy u u cao vút mãi lên. Người Việt như đang tan ra nhè nhẹ. Ước gì bây giờ lại được gặp má. Phải, ví như lúc má đang bơi xuồng, má sẽ ghé lại, xoa đầu Việt, đánh thức Việt dậy, rồi lấy xoong cơm đi làm đồng để ở dưới xuồng lên cho Việt ăn...

... Việt vẫn còn đây, nguyên tại vị trí này, đạn đã lên nòng, ngón cái còn lại vẫn sẵn sàng nổ súng. Các anh chờ Việt một chút. Tiếng máy bay vẫn gầm rú hỗn loạn trên cao, nhưng mặc xác chúng. Kèn xung phong của chúng ta đã nổi lên. Lựu đạn ta đang nở rộ...

Việt đã bò đi được một đoạn, cây súng đẩy đi trước, hai cùi tay lôi người theo. Việt cũng không biết rằng mình đang bò đi nữa, chính trận đánh đang gọi Việt đến. Phía đó là sự sống. Tiếng súng đã đem lại sự sống cho đêm vắng lặng. Ở đó có các anh đang chờ Việt, đạn ta đang nổ lên đầu giặc Mĩ những đám lửa dữ dội, và những mũi lê nhọn hoắt trong đêm đang bắt đầu xung phong...”

( Trích Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi, Ngữ văn 12,Tập hai,

NXB Giáo dục Việt Nam, 2015)

Gợi ý:

* Giới thiệu khái quát về 2 tác giả, 2 tác phẩm và vấn đề cần nghị luận- vẻ đẹp thanh niên Việt Nam trong thời kì chống Mĩ cứu nước.

* Phân tích vẻ đẹp của nhân vật Tnú qua đoạn trích trong tác phẩm Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành|), Việt qua đoạn trích trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi) để làm rõ vẻ đẹp của thanh niên Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước:

- Vẻ đẹp của nhân vật Tnú:

+ Tnú là người có trái tim yêu thương (chứng kiến vợ con bị tra tấn, anh đã bứt đứt hàng chục trái vả mà không hay, tay không xông ra giữa bọn lính để cứu vợ con…)

+Tnú là người gan dạ, dũng cảm, kiên cường , tuyệt đối trung thành với cách mạng (bị tra tấn- đốt 10 ngón tay nhưng anh cắn răn chịu đựng, không kêu van )

- Vẻ đẹp của nhân vật Việt:

+Yêu thương gia đình sâu đậm (hình ảnh người thân, đặc biệt là má luôn hiện hữu trong Việt, từ đó thôi thúc ý chí đấu tranh)

+Tinh thần chiến đấu kiên cường, căm thù giặc sâu sắc ( khi bị thương lạc đồng đội, Việt vẫn kiên cường chịu đựng, dù lúc mê lúc tỉnh nhưng vẫn ở tư thế sẵn sàng chiến đấu…)

*Đánh giá khái quát:

- Tnú được khắc họa trong sự gắn bó với buôn làng. Nhân vật mang đậm dấu ấn người anh hùng trong sử thi của đồng bào dân tộc miền núi. Việt được khắc họa trong mối quan hệ gia đình. Nhân vật gần gũi với cuộc sống đời thường, mang đặc điểm, phẩm chất của một chàng trai mới lớn. Cả hai nhân vật vừa mang nét cá tính riêng , vừa mang những phẩm chất có tính khái quát, tiêu biểu. Vẻ đẹp của Tnú và Việt tiêu biểu cho vẻ đẹp của thanh niên Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước: yêu gia đình, quê hương, căm thù giặc sâu sắc, kiên cường, bất khuất, trung thành với cách mạng.

- Nghệ thuật:

+Nhân vật Việt: Với nghệ thuật trần thuật tác giả để cho nhân vật tự kể về cuộc đời của mình và các nhân vật khác theo dòng hồi tưởng; giọng điệu tự sự kết hợp trữ tình; ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ; xây dựng nhân vật sinh động qua miêu tả hành động và nội tâm tinh tế .
+ Nhân vật Tnú: Hiện lên qua lời kể của tác giả, lời kể của cụ Mết, giọng kể mang đậm tính sử thi; ngôn ngữ , hành động mang đặc trưng của người Tây Nguyên; phân tích thế giới nội tâm nhân vật sắc sảo.   

ĐỀ 2: Câu 2.( 5,0 điểm )

Những vẻ đẹp khác nhau của các thế hệ người Tây Nguyên, đặc biệt là anh Tnú trong truyện ngắn Rừng Xà nu của Nguyễn Trung Thành.

Gợi ý:

a) Mở bài: Giới thiệu truyện ngắn Rừng Xà nu của Nguyễn Trung Thành.

b) Thân bài: Giải quyết 2 ý lớn

       + Những vẻ đẹp khác nhau của các thế hệ người Tây Nguyên:

       * Vẻ đẹp chung: Hình ảnh của cả một buôn làng Xô Man từ già tới trẻ, từ đàn ông tới đàn bà…đều một lòng đi theo Cách mạng.

       * Những vẻ đẹp riêng:

- Cụ Mết: là biểu tượng cho sức mạnh tinh thần và vật chất có tính truyền thống và cội nguồn – là chỗ dựa tinh thần và là pho sử sống – là nhịp cầu nối giữa quá khứ và hiện tại của các thế hệ người dân Tây Nguyên.

   - Mai và Dít: tiêu biểu cho hình ảnh của người phụ nữ mới của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên thời đánh Mỹ, tự giác và quyết liệt trong cuộc đối mặt với kẻ thù.

   - Bé Heng: Hình ảnh mang những nét tương đồng với lứa cây xà nu mới lớn, mang trong mình bao sinh lực và nhựa sống, hứa hẹn sẽ trở thành những cây xà nu mạnh mẽ và bất tử.

+ Đặc biệt là anh Tnú: điển hình cho số phận và con đường Cách mạng của dân làng Xô Man; những phẩm chất đẹp đẽ của người anh hùng Tnú mang ý nghĩa tiêu biểucả làng Xô man từ già đến trẻ đều có những phẩm chất tương tự (gan dạ, kiên trung, anh hùng, yêu nước...).

c) Kết luận: Nguyễn Trung Thành đã rất thành công trong việc khắc họa hình ảnh những nhân vật anh hùng, tập thể anh hùng vừa mang dấu ấn thời đại vừa đậm đà phong cách Tây Nguyên.

2. Phân tích giá trị nghệ thuật mang tính sử thi của truyện ngắn Rừng Xà nu.

Gợi ý:

   a) Truyện đề cập đến vấn đề trọng đại mang tính sống còn của một dân tộc: Cuộc kháng chiến chống Mỹ của đồng bào dân tộc Tây nguyên vào giai đoạn ác liệt nhất.

b) Không gian truyện hoành tráng: Rừng xà nu bạt ngàn được giới thiệu từ đầu cho tới kết thúc truyện,

c) Các nhân vật từ già đến trẻ, từ đàn ông đến đàn bà đều là những anh hùng.

d) Ngôn ngữ kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật đều có giọng cường điệu vượt lên trên hiện thực bình thường.

ĐỀ 3: Câu 2.( 5,0 điểm )

Phân tích nhân vật Việt trong Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi để thấy vẻ đẹp tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mĩ.

* Gợi ý:

Bài viết cần có những ý cơ bản sau:

- Việt là một chàng trai có tâm hồn trong sáng, hồn nhiên và trẻ con:

+ Hay tranh giành với chị : từ việc soi ếch đến việc ghi tên tòng quân.

+ Là một chiến sĩ giải phóng quân, cầm súng tự động, đánh Mĩ bằng lê mà cái ná thun vẫn nằm gọn trong túi.

+ Bị thương nặng đến ngày thứ hai, trong bóng đêm vắng và lạnh lẽo, Việt không sợ chết mà sợ bóng đêm và sợ ma.

- Tình thương yêu gia đình sâu nặng:

+ Việt rất thương chị: lúc khiêng bàn thờ má sang gởi nhà chú Năm, Việt thấy thương chị lạ. Vào bộ đội, Việt giấu chị như giấu của riêng.

+ Rất thương chú Năm: nhớ câu hò của chú..

+ Lúc bị thương, hình ảnh ba má hiện về chập chờn trong hồi ức Việt.

- Tính cách người anh hùng, tinh thần chiến đấu dũng cảm:

+ Dòng máu trong người Việt là dòng máu anh hùng: Dòng máu ấy chảy qua nhiều thế hệ từ ông bà, cha mẹ đến thế hệ Việt và Chiến. Chính truyền thống gia đình là động lực tình cảm, tinh thần thúc đẩy Việt chiến đấu. 

+ Bị thương ở trận địa, lạc đồng đội, người đầy thương tích, lúc tỉnh lúc mê, Việt vẫn ở tư thế sẵn sàng chiến đấu.

+ Tỉnh dậy lần thứ tư giữa đêm sâu thẳm, nghe tiếng súng đồng đội, Việt vẫn cố bò về hướng đó “Chính trận đánh đang gọi Việt đến” 

- Đánh giá: 

+ Nguyễn Thi đã miêu tả nhân vật một cách sắc nét từ tính tình, tình cảm đến tinh thần chiến đấu bằng những hình ảnh chân thực, hồn nhiên đầy cảm động.

+ Ngôn ngữ mang màu sắc Nam Bộ, phát huy tối đa lời đôc thoại nội tâm, những hồi ức khi đứt nối tưởng chừng rời rạc nhưng thật chặt chẽ, truyện đã khắc họa hình tượng của một nhân vật anh hùng, đại diện cho thế hệ trẻ miền nam thời kì chống Mĩ. Tác phẩm dạt dào cảm hứng sử thi.

ĐỀ 4: Câu 2.( 5,0 điểm )

Phân tích nhân vật Chiến trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của nhà văn Nguyễn Thi.

* Gợi ý:

Bài viết cần có những ý cơ bản sau:

- Vẻ đẹp của một cô gái đời thường:

+ Cô 18 tuổi, đôi lúc tính khí còn trẻ con (tranh công bắt ếch, vết đạn bắn tàu giặc) song có cái duyên dáng của thiếu nữ mới lớn (bịt miệng cười khi chú Năm cất giọng hò, chéo khăn hờ ngang miệng, thích soi gương - đi đánh giặc còn cái gương trong túi, ...).

+ Thương em, biết nhường nhịn em; biết tính toán việc nhà. 

+ Thương cha mẹ (tâm trạng cô khi khiêng bàn thờ má gửi trước ngày tòng quân...). 

Chiến là hình ảnh sinh động của cô gái Việt Nam trong cuộc sống đời thường những năm chiến tranh chống Mỹ.

- Vẻ đẹp của phẩm chất người anh hùng:

+ Quyết tâm lên đường trả thù cho ba má: “Tao đã thưa với chú Năm rồi. Đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: nếu giặc còn thì tao mất, vậy à”. 

+ Những phẩm chất đẹp đẽ của Chiến luôn được nghệ thuật miêu tả trong sự soi rọi với hình tượng người mẹ. Nhưng nếu câu chuyện của gia đình Chiến là một “dòng sông” thì Chiến là khúc sông sau - cô giống mẹ nhưng cũng rất khác mẹ ở hành động quyết định vào bộ đội, quyết định cầm súng đi trả thù cho gia đình, quê hương.

- Đánh giá:

Chiến mang trong mình vẻ đẹp người con gái Việt Nam thời chống Mỹ: trẻ trung, duyên dáng nhưng cũng rất mực anh hùng. Cô tiếp nối và làm rạng rỡ truyền thống đánh giặc cứu nước của gia đình và truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Nghệ thuật thành công trong việc xây dựng hình tượng nhân vật nữ anh hùng thời chống Mỹ. 

Bottom of Form

Đề 5: Phân tích những điểm giống nhau và khác nhau của hai nhân vật Việt và Chiến trong truyện Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi.

* Gợi ý:

Bài viết cần có những ý cơ bản sau:

- Những điểm giống nhau của nhân vật Chiến và Việt:

+ Là con của một gia đình cách mạng, giàu truyền thống anh hùng: Ông bà, ba má đều bị giặc sát hại.

+ Cả hai đều rất yêu thương, kính trọng và tự hào về cha mẹ mình: hai chị em cùng ước nguyện lên đường đánh giặc trả thù cho ông bà, ba má “giành nhau đi bộ đội”.

+ Tuổi đời còn rất trẻ, cái hồn nhiên, ngây thơ vẫn còn in đậm trong mỗi nhân vật: Tranh nhau việc bắt ếch, tranh nhau thành tích bắn tàu chiến trên sông Định Thủy, tranh nhau ghi tên tòng quân.

+ Dũng cảm, gan góc và từng lập nhiều chiến công: nhận thức về thù nhà nợ nước, về nghĩa vụ đánh giặc để giải phóng miền Nam vô cùng sâu sắc.

- Những điểm khác nhau của nhân vật Chiến và Việt:

        Cơ bản nhất là hai nhân vật khác nhau về giới tính, Chiến lại là chị của Việt nên tính cách, cư xử cũng khác nhau: 

+ Chiến giống má ở tính gan góc, tháo vác, biết lo toan thu xếp việc nhà đâu vào đấy. Là gái, Chiến cần mẫn, chăm chỉ, kiên nhẫn trong mọi việc còn Việt thì nôn nóng, hiếu động. 

+ Là chị, Chiến rất thương em, hầu như mọi chuyện tranh giành cuối cùng chị đều nhường nhịn (trừ việc ghi tên tòng quân).

+ Chiến hầu như đã trưởng thành còn Việt thì vẫn còn tính trẻ con: Việt hiếu thắng, hay tranh giành với chị, việc nhà phó mặc cho chị. Việt thích đánh giặc, dũng cảm trong chiến trận nhưng rất trẻ con: Bị thương không sợ chết mà sợ ma, là anh giải phóng quân bắn súng tự động mà trong túi vẫn mang theo cái ná thun. 

- Đánh giá: 

+ Miêu tả nhân vật tự nhiên, ngôn ngữ mang đậm chất Nam Bộ phù hợp với hoàn cảnh, tính cách nhân vật.

+ Vận dụng nhuần nhuyễn nghệ thuật liên tưởng, hồi ức đã phản ánh chân thực tính cách, hành động của Việt và Chiến - người dân Nam Bộ, đã góp phần lí giải mối tương quan giữa cái bình thường và cái phi thường của họ trong cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. 

ĐỀ 6 :Phân tích đoạn trích trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa để làm sáng tỏ nhận định: Chiếc thuyền ngoài xa đã thể hiện cái nhìn thấu hiểu và trĩu nặng tình thương của nhà văn Nguyễn Minh Châu đối với con người..

1. Vài nét về tác giả, tác phẩm.

   - Nguyễn Minh Châu là một cây bút tiên phong trên hành trình đổi mới, là người mở đường tinh anh và tài năng của văn học việt nam sau 1975.

   - Chiếc thuyền ngoài xa (1983) khai thác sâu sắc số phận cá nhân con người, những vấn đề đạo đức với nhiều suy tư trăn trở của người cầm bút.

2. Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài để làm sáng tỏ nhận định.

a. Nội dung

   - Nhân vật đã thể hiện cái nhìn thấu hiểu của nhà văn về số phận con người.

   + Thấy được tình cảnh và nỗi khổ của người đàn bà hàng chài: kém may măn, cuộc sống lam lũ, cơ cực, bấp bênh (thuyền chật, con đông, nghèo đói, có lúc cả nhà vợ chồng con cái đều ăn xương rồng luộc chấm muối…)

   + Thấu hiểu bi kịch của người đàn bà bị chồng bạo hành: thường xuyên bị chồng đánh đập tàn nhẫn, vô lí: Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng.

   - Qua nhân vật người đàn bà hàng chài nhà văn đã thể hiện cái nhìn trĩu nặng tình thương với con người.

   + Phát hiện đằng sau vẻ cam chịu, nhẫn nhục là những phẩm chất tốt đẹp của nhân vật: thấu hiểu lẽ đời; bao dung, cảm thông và vị tha với chồng; thương con vô bờ bến: Đàn bà trên thuyền phải sống cho con chứ không phải sống cho mình…

   + Cảm thương, chia sẻ và trân trọng, khát khao hạnh phúc bình dị, đời thường của nhân vật: Vui nhất là ngồi nhìn đàn con chúng nó được ăn no…

b. Nghệ thuật

+ Tạo được tình huống truyện mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống và nhân vật.

+ Tính cách nhân vật được thể hiện qua nhiều mối quan hệ; giọng văn xót xa, chiêm nghiệm.

3. Đáng giá chung.

- Chiếc thuyền ngoài xa thể hiện cái nhìn mới mẻ, sâu sắc, mang tính thời sự của Nguyễn Minh Châu về cuộc sống và số phận con người.

   - Qua những nghịch lí của cuộc đời, nhà văn thể hiện tình cảm chân thành với những người lao động nghèo khổ; cảnh báo về thực trạng bạo lực gia đình và góp phần lí giải nguyên nhân của thực trạng ấy.

ĐỀ 7: Vẻ đẹp của những người phụ nữ trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân

Gợi ý:

* Mở bài: Giới thiệu:

- Tác giả: Kim Lân cây bút chuyên viết truyện ngắn , thành công ở những tác phẩm viết về thôn quê Việt Nam

- Tác phẩm “ Vợ nhặt” tiêu biểu cho đặc điểm văn của Kim Lân

- Luận đề : hai người phụ nữ ( bà cụ Tứ, người vợ nhặt) để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc bởi vẻ đẹp ở phẩm chất, tâm hồn dù họ đang đứng trước cái đói, cái chết cận kề.

* Thân bài:

- Tiền thân của truyện ngắn Vợ nhặt là tiểu thuyết Xóm ngụ cư, được Kim Lân viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng chưa hoàn thành và bị thất lạc. Năm 1954 , Kim Lận đã dực vào cốt truyện cũ để viết “ Vợ nhặt”. Viết về nạn đói năm 1945, Kim Lân đã có những khám phá mới mẻ về vẻ đẹp của con người trong hoàn cảnh khốn cùng ấy.

- Vẻ đẹp ở người vợ nhặt:

+ Khát vọng sống mãnh liệt: đánh liều theo Tràng về để có cơ hội được sống

+ Bản chất là người khá ý tứ, biết vun vén , chăm lo cho gia đình: ý tứ trong từng cử chỉ, hành động khi mới về nhà chồng; lễ phép với mẹ chồng; chăm lo,dọn dẹp nhà cửa…

- Vẻ đẹp ở bà cụ Tứ:

+ Người mẹ yêu thương con hết mực: tâm trạng ngạc nhiên,lo lắng, buồn , vui…của bà đều xuất phát từ tình yêu thương con.

+ Sống nhân hậu, vị tha: sẵn sàng đón nhận con dâu dù biết rõ “ cơ sự”

+ Có niềm tin mãnh liệt vào sự sống, tương lai: nói với con toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau

- Qua nghệ thuật tạo tình huống độc đáo, lối kể chuyện tự nhiên, ngôn ngữ giản dị và nghệ thuật phân tích tâm lý nhân vật tinh tế, sắc sảo, Kim Lân đã xây dựng thành công nhân vật thị và bà cụ Tứ. Hai người phụ nữ này đều rất đáng thương, đáng trân trọng và đều mang vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam .

* Kết bài: Khái quát lại vấn đề; liên hệ bản thân

Đăng nhập

 dethi xem ngoaikhoa  duhoc