Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KỲ 1 - MÔN NGỮ VĂN, LỚP 10, NH 2019 - 2020

TRƯỜNG THPT BÙI THỊ XUÂN – ĐÀ LẠT

                     TỔ NGỮ VĂN

 

                 ĐỀ CƯƠNG ÔN THI HỌC KÌ I NĂM HỌC 2019 – 2020

                                    MÔN NGỮ VĂN – KHỐI 10

A. NỘI DUNG KIẾN THỨC

I. Phần Đọc văn:

Bài 1: Tỏ lòng (Thuật hoài) - Phạm Ngũ Lão

1. Nội dung:

- Vóc dáng hùng dũng

+ Hình ảnh tráng sĩ : hiện lên qua tư thế "cầm ngang ngọn giáo" (hoành sóc) giữ non sông. Đó là tư thế hiên ngang với vẻ đẹp kì vĩ mang tầm vóc vũ trụ.

+ Hình ảnh "ba quân" : hiện lên với sức mạnh của đội quân đang sôi sục khí thế quyết chiến thắng.

+ Hình ảnh tráng sĩ lồng trong hình ảnh "ba quân" mang ý nghĩa khái quát, gợi ra hào khí dân tộc thời Trần - "hào khí Đông A".

- Khát vọng hào hùng

Khát vọng lập công danh để thoả "chí nam nhi", cũng là khát vọng được đem tài trí "tận trung báo quốc", thể hiện lẽ sống lớn của con người thời đại Đông A.

2. Nghệ thuật:

- Hình ảnh thơ hoành tráng, thích hợp với việc tái hiện khí thế hào hùng của thời đại và tầm vóc, chí hướng của người anh hùng.

- Ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, có sự dồn nén cao độ về cảm xúc.

3. Ý nghĩa văn bản:

Thể hiện lí tưởng cao cả của vị danh tướng Phạm Ngũ Lão, khắc ghi dấu ấn đáng tự hào về một thời kì oanh liệt, hào hùng của lịch sử dân tộc.

Bài 2: Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới – 43) - Nguyễn Trãi

1. Nội dung:

- Vẻ đẹp rực rỡ của bức tranh thiên nhiên

+ Mọi hình ảnh đều sống động : hoè lục đùn đùn, rợp mát như giương ô che rợp ; thạch lựu phun trào sắc đỏ, sen hồng đang độ nức ngát mùi hương.

+ Mọi màu sắc đều đậm đà : hoè lục, lựu đỏ, sen hồng.

- Vẻ đẹp thanh bình của bức tranh đời sống con người : nơi chợ cá dân dã thì "lao xao", tấp nập; chốn lầu gác thì "dắng dỏi" tiếng ve như một bản đàn.

Cả thiên nhiên và cuộc sống con người đều tràn đầy sức sống. Điều đó cho thấy một tâm hồn khát sống, yêu đời mãnh liệt và tinh tế, giàu chất nghệ sĩ của tác giả.

- Niềm khát khao cao đẹp

+ Đắm mình trong cảnh ngày hè, nhà thơ ước có cây đàn của vua Thuấn, gảy khúc Nam phong cầu mưa thuận gió hoà để "Dân giàu đủ khắp đòi phương".

+ Lấy Nghiêu, Thuấn làm "gương báu răn mình", Nguyễn Trãi đã bộc lộ chí hướng cao cả: luôn khao khát đem tài trí để thực hành tư tưởng nhân nghĩa yêu nước thương dân.

2. Nghệ thuật:

- Hệ thống ngôn từ giản dị, tinh tế xen lẫn từ Hán và điển tích.

- Sử dụng từ láy độc đáo : đùn đùn, lao xao, dắng dỏi,...

3. Ý nghĩa văn bản:

Tư tưởng lớn xuyên suốt sự nghiệp trước tác của Nguyễn Trãi - tư tưởng nhân nghĩa yêu nước thương dân - được thể hiện qua những rung động trữ tình dạt dào trước cảnh thiên nhiên ngày hè.

Bài 3: Nhàn - Nguyễn Bỉnh Khiêm

1. Nội dung:

- Nhàn thể hiện ở sự ung dung trong phong thái, thảnh thơi, vô sự trong lòng, vui với thú điền viên.

- Nhàn là nhận dại về mình, nhường khôn cho người, xa lánh chốn danh lợi bon chen, tìm về "nơi vắng vẻ", sống hoà nhập với thiên nhiên để "di dưỡng tinh thần".

- Nhàn là sống thuận theo lẽ tự nhiên, hưởng những thức có sẵn theo mùa ở nơi thôn dã mà không phải mưu cầu, tranh đoạt.

- Nhàn có cơ sở từ quan niệm nhìn cuộc đời là giấc mộng, phú quý tựa chiêm bao.

Từ đó, cảm nhận được trí tuệ uyên thâm, tâm hồn thanh cao của nhà thơ thể hiện qua lối sống đạm bạc, nhàn tản, vui với thú điền viên thôn dã.

2. Nghệ thuật:

- Sử dụng phép đối, điển cố.

- Ngôn từ mộc mạc, tự nhiên mà ý vị, giàu chất triết lí.

3. Ý nghĩa văn bản:

     Vẻ đẹp nhân cách của tác giả: thái độ coi thường danh lợi, luôn giữ cốt cách thanh cao trong mọi cảnh ngộ đời sống.

     Học sinh cần ghi nhớ: giá trị nghệ thuật cũng như nội dung từng văn bản; biết cách phân tích, lý giải từng bài thơ, đoạn thơ.

II. Phần Tiếng Việt:

Bài 1: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

a. Kiến thức:

 * Khái niệm:  Ngôn ngữ sinh hoạt (khẩu ngữ, ngôn ngữ nói, lời nói miệng, ngôn ngữ hội thoại) là lời ăn tiếng nói hằng ngày dùng để thông tin, trao đổi ý nghĩ, tình cảm,…đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống.

* Các dạng biểu hiện:

   Ngôn ngữ sinh hoạt chủ yếu thể hiện ở dạng nói và có cả ở dạng viết:

- Trong dạng nói có: đối thoại, đa thoại.

- Trong dạng viết có: nhật kí, thư từ...

   Chú ý trong tác phẩm văn học có dạng lời nói tái hiện tức là mô phỏng lời thoại tự nhiên như: Kịch, tuồng, chèo, truyện, tiểu thuyết... hoặc bài ghi lời phát biểu, nói chuyện của các nhà lãnh đạo, nhà văn hóa... Khi tái hiện, lời nói tự nhiên được biến đổi phần nào theo thể loại văn bản và ý định chủ quan của người sáng tạo.

   Song ở trường hợp nào nói hay viết, tái hiện hay sáng tạo, ngôn ngữ sinh hoạt vẫn là tiếng nói hàng ngày chưa được gọt giũa.

* Đặc trưng: Ngôn ngữ sinh hoạt có 3 đặc trư­ng cơ bản:

- Tính cụ thể: Cụ thể về hoàn cảnh, về con ngư­ời, về những cách thức nói năng, về từ ngữ, diễn đạt.

- Tính cảm xúc: Mỗi lời được nói ra bao giờ cũng gắn với cảm xúc của ng­ười nói. Cảm xúc ấy rất phong phú, sinh động nhưng cũng rất cụ thể.

- Tính cá thể: Ngôn ngữ sinh hoạt gắn với những đặc điểm riêng của cá nhân nh­ư giọng nói, từ ngữ, cách nói quen dùng, tuổi tác, giới tính, địa ph­ương…

Ba đặc tr­ưng này giúp ta phân biệt phong cách ngôn ngữ sinh hoạt với các phong cách ngôn ngữ khác như­ phong cách ngôn ngữ khoa học, phong cách ngôn ngữ hành chính, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật…

b. Kĩ năng:

- Nhận diện được ngôn ngữ sinh hoạt ở các dạng biểu hiện.

- Phân tích được những đặc trưng cơ bản.

- Biết sử dụng đạt hiệu quả cao trong giao tiếp.

                                 Học sinh cần nắm vững lý thuyết và các bài luyện tập

Bài 2: Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ

a. Kiến thức:

- Khái niệm cơ bản về từng phép tu từ : ẩn dụ, hoán dụ.

- Tác dụng của từng phép tu từ nói trên trong ngữ cảnh giao tiếp.

b. Kĩ năng:

- Nhận diện đúng hai phép tu từ trong văn bản.

- Phân tích được cách thức cấu tạo của hai phép tu từ (quan hệ tương đồng hoặc tương cận).

- Cảm nhận và phân tích được giá trị nghệ thuật của hai phép tu từ.

- Bước đầu biết sử dụng ẩn dụ, hoán dụ trong những ngữ cảnh cần thiết.

                             Học sinh cần nắm vững lý thuyết và các bài luyện tập

Bài 3: Đặc điểm ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết

a. Kiến thức:

Ngôn ngữ nói

* Khái niệm: Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ âm thanh, là lời nói trong giao tiếp. Người nói và người nghe trực tiếp trao đổi với nhau, vì vậy họ có thể đổi vai (nói - nghe, nghe - nói) cho nên trong giao tiếp có thể sửa đổi. Người nói ít có điều kiện gọt giũa, người nghe ít có điều kiện suy ngẫm, phân tích.

* Đặc điểm:

+ Rất đa dạng về ngữ điệu (ví dụ) có thể cao, thấp, nhanh, chậm, mạnh, yếu, liên tục hay ngắt quãng. Rõ ràng ngữ điệu là yếu tố quan trọng góp phần bộc lộ bổ sung thông tin.

+ Phối hợp giữa âm thanh và cử chỉ, dáng điệu

+ Từ ngữ sử dụng trong ngôn ngữ nói khá đa dạng.

- Từ địa phương

- Khẩu ngữ

- Tiếng lóng

- Biệt ngữ

+ Câu có khi rườm rà, trùng lặp về từ ngữ vì không có thời gian gọt giũa, vì đây là giao tiếp tức thời.

Ngôn ngữ viết

* Khái niệm: Ngôn ngữ viết được thể hiện bằng chữ viết trong văn bản và được tiếp nhận bằng thị giác

* Đặc điểm:

- Người viết và người đọc phải biết các kí hiệu chữ viết, các quy tắc, các quy tắc chính tả, các quy tắc tổ chức văn bản.

- Khi viết phải suy ngẫm, lựa chọn, gọt giũa nên người đọc phải đọc đi đọc lại, phân tích nghiền ngẫm để lĩnh hội.

- Ngôn ngữ viết đến với đông đảo bạn đọc trong không gian và thời gian lâu dài.

- Ngôn ngữ viết không có yếu tố ngữ điệu, cử chỉ nhưng có sự hỗ trợ của hệ thống dấu câu.

- Từ ngữ phong phú nên khi viết có điều kiện được lựa chọn thay thế

- Tùy thuộc vào phong cách ngôn ngữ mà sử dụng từ ngữ.

- Không dùng các từ mang tính khẩu ngữ, địa phương, thổ ngữ.

- Được sử dụng câu dài ngắn khác nhau tùy thuộc ý định.

b. Kĩ năng:

- Nhận diện được ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.

- Phân tích được đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.

- Biết sử dụng có hiệu quả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết trong những ngữ cảnh cần thiết.

                             Học sinh cần nắm vững lý thuyết và các bài luyện tập

Bài 4: Ôn lại một số phép tu từ, hình thức nghệ thuật như so sánh; điệp từ, ngữ, câu, cấu trúc câu; liệt kê; phép chêm xen…

III. Phần làm văn:

   Các phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả và biểu cảm; phong cách ngôn ngữ: phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và các phong cách ngôn ngữ đã học; các thao tác lập luận đã học…                      

B. DẠNG ĐỀ VÀ ĐỀ THAM KHẢO

1. Thời gian làm bài 90 phút

2. Dạng đề : gồm 2 phần:

     Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)

           Đọc – hiểu một đoạn văn bản hoặc đoạn thơ: trong hoặc ngoài SGK. Có 4 câu hỏi ở các mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng. (có viết đoạn văn NLXH khoảng 100 từ)

     Phần II. Làm văn (7,0 điểm )

           Văn bản nghị luận văn học.

Nắm chắc cách viết một bài văn nghị luận thuộc vấn đề văn học; phải đảm bảo hai yêu cầu chính:

a.Yêu cầu về kĩ năng: Biết cách làm bài văn nghị luận về văn học; phân tích được giá trị nghệ thuật; kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp thông thường

b.Yêu cầu về kiến thức: Trên cơ sở những hiểu biết về tác giả, tác phẩm; học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau song cần nêu được những ý cơ bản mà đề bài yêu cầu:

c. Cách làm bài:

* Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn và sinh động, hấp dẫn về tác giả, tác phẩm và nội dung cần nghị luận

* Thân bài:

+ Giải thích những khái niệm, nhan đề… xuất hiện trong đề bài (nếu có)

+ Phân tích từng luận điểm: dùng lí lẽ kết hợp lí giải những câu thơ, câu văn với những từ ngữ, hình ảnh mang ý nghĩa… , những biện pháp nghệ thuật; từ đó nêu ra những nội dụng cơ bản

+ Kết lại những nét nghệ thuật chính của đoạn thơ – bài thơ, đoạn văn – bài văn đề ra yêu cầu phân tích

* Kết bài: Đánh giá khái quát giá trị nghệ thuật và nội dung chính của vấn đề; liên hệ, mở rộng, nâng cao.

    3. Đề tham khảo:      ĐỀ THI HỌC KỲ I NĂM HỌC 2019 - 2020

Môn Ngữ văn – Khối 10

Thời gian làm bài: 90 phút (không kể thời gian phát đề)

I. ĐỌC HIỂU(3,0 điểm)

Đọc đoạn trích dưới đây và thực hiện các yêu cầu:

    Nhà khoa học người Anh Phơ-răng-xít Bê-cơn (thế kỉ XVI – XVII) đã nói một câu nổi tiếng: “Tri thức là sức mạnh”. Sau này Lê-nin, một người thầy của cách mạng vô sản thế giới, lại nói cụ thể hơn: “Ai có tri thức thì người ấy có được sức mạnh”. Đó là một tư tưởng rất sâu sắc. Tuy vậy, không phải ai cũng hiểu được tư tưởng ấy.

    Người ta kể rằng, có một máy phát điện cỡ lớn của công ti Pho bị hỏng. Một hội đồng gồm nhiều kĩ sư họp 3 tháng liền tìm không ra nguyên nhân. Người ta phải mời đến chuyên gia Xten-mét-xơ. Ông xem xét và làm cho máy hoạt động trở lại. Công ti phải trả cho ông 10.000 đô la. Nhiều người cho Xten-mét-xơ là tham, bắt bí để lấy tiền. Nhưng trong giấy biên nhận, Xten-mét-xơ ghi: “Tiền vạch một đường thẳng là 1 đô la. Tiền tìm ra chỗ để vạch đúng đường ấy giá: 9 999 đô la”. Rõ ràng người có tri thức thâm hậu có thể làm được những việc mà nhiều người khác không làm nổi. Thử hỏi, nếu không biết cách chữa thì cỗ máy kia có thể thoát khỏi số phận trở thành đống phế liệu được không?...

    Đáng tiếc là hiện nay còn không ít người chưa biết quý trọng tri thức. Họ coi mục đích của việc học chỉ là để có mảnh bằng mong sau này tìm việc kiếm ăn hoặc thăng quan tiến chức. Họ không biết rằng, muốn biến nước ta thành một quốc gia giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, sánh vai cùng các nước trong khu vực và thế giới cần phải có biết bao nhiêu nhà trí thức tài năng trên mọi lĩnh vực!

                             (Theo Hương Tâm, Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục, 2005, tr.34-35)

Câu 1. Nội dung của văn bản. (0.5 điểm)

Câu 2. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. (0.5 điểm)

Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của hai biện pháp tu từ nghệ thuật trong câu: “Họ coi mục đích của việc học chỉ là để có mảnh bằng mong sau này tìm việc kiếm ăn hoặc thăng quan tiến chức. Họ không biết rằng, muốn biến nước ta thành một quốc gia giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, sánh vai cùng các nước trong khu vực và thế giới cần phải có biết bao nhiêu nhà trí thức tài năng trên mọi lĩnh vực!” (1.0 điểm)

Câu 4. Viết một đọan văn (khoảng 100 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về câu nổi tiếng của Phơ-răng-xít Bê-cơn: “Tri thức là sức mạnh”(1.0 điểm)

II. LÀM VĂN(7,0 điểm)

     Cảm nhận của anh/chị về bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão:                                  

             Phiên âm                       Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu,

Tam quân tì hổ khí thôn ngưu.

Nam nhi vị liễu công danh trái,

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.

          

              Dịch thơ                       Múa giáo non sông trải mấy thu,

Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu.

Công danh nam tử còn vương nợ,

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu.

                             Bùi Văn Nguyên dịch,

                               (Theo Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập II - Văn học thế kỉ X – thế kỉ XVII,

                         SGK Ngữ văn 10 tập một – NXB Giáo dục)

 

-----Hết-----

                                                          

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đăng nhập

 dethi xem ngoaikhoa  duhoc