Đối tác chiến lược

chung cư imperia garden

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KỲ 1 - MÔN NGỮ VĂN, LỚP 10 , NH 2018 - 2019

TRƯỜNG THPT BÙI THỊ XUÂN – ĐÀ LẠT

                      TỔ NGỮ VĂN

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI HỌC KÌ I NĂM HỌC 2018 – 2019

MÔN NGỮ VĂN – KHỐI 10

A. NỘI DUNG KIẾN THỨC

I. Phần Đọc văn:

Bài 1: Ca dao than thân yêu thương, tình nghĩa.

1. Nội dung:

- Ca dao tha thân thường là lời của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Thân phận của họ bị phụ thuộc vào những người khác trong xã hội, giá trị của họ không được ai biết đến. Thân phận ấy thường được nói lên bằng những so sánh ẩn dụ như tấm lụa đào…

- Ca dao yêu thương tình nghĩa đề cập đến những tình cảm, phẩm chất của người lao động như tình bạn cao đẹp, tình yêu tha thiết mặn nồng với mỗi thương nhớ da diết và ước muốn mãnh liệt, tình nghĩa thủy chung của con người trong cuộc sống,…thường được nói lên bằng những biểu tượng như tấm khăn, ngọn đèn, cái cầu, con thuyền, bến nước, gừng cay – muối mặn,…

a. Bài 1:

- Mở đầu: cụm từ “thân em” mô típ quen thuộc trong ca dao, kèm theo một âm điệu ngậm ngùi, xót xa. Có thể xác định đây là lời than của những cô gái đang đến độ xuân thì. Tuy có phẩm chất đẹp thế nhưng vẻ đẹp ấy lại không được nâng niu và trân trọng. Họ không thể tự quyết định được tương lai và hạnh phúc của mìn. Họ khát khao và chờ mong nhưng vẫn phải gửi cuộc sống của mình cho số phận. Người phụ nữ ý thức được tuổi xuân và vẻ đẹp của mình (như tấm lụa đào). Nhưng thân phận lại thật xót xa khi không thể tự quyết định được tương lai của chính mình (phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?). Là lời than của người phụ nữ trong xã hỗi cũ, chịu nhiều bất hạnh, đau khổ, xót xa.

b. Bài 4:

  Thương nhớ vốn là một tình cảm khó hình dung, nhất là thương nhớ trong tình yêu. Vậy mà ở bài ca dao này, nó lại được diễn tả một cách thật cụ thể, tinh tế và gợi cảm bằng các hình tượng nghệ thuật: khăn, đèn, mắt.

   Hai hình tượng khăn, đèn được xây dựng bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hóa (khăn, đèn chính là cô gái), còn hình ảnh mắt được xây dựng bằng phép hoán dụ (dùng bộ phận để chỉ toàn thể – nhân vật trữ tình). Hình ảnh khăn, đèn, mắt đã trở thành biểu tượng cho niềm thương nỗi nhớ của cô gái đang yêu.

   Cái khăn được nhắc đến đầu tiên và được điệp đi điệp lại nhiều lần bởi nó thường là vật kỉ niệm, vật trao duyên. Nó lại luôn luôn ở bên mình người con gái. Chính vì thế mà nó có thể cất lên lời tâm sự thay cho nhân vật trữ tình. Hình ảnh chiếc khăn gắn với các động từ như: thương nhớ, rơi xuống, vắt lên, chùi nước mắt… nói lên tâm trạng ngổn ngang trăm mối của người con gái.

   Nỗi nhớ thương của cô gái còn thể hiện qua hình ảnh ngọn đèn – đó là nỗi nhớ được trải dài ra theo nhịp thời gian. Đèn chẳng tắt hay chính là ngọn lửa tình trong lòng cô gái đang thắp sáng suốt đêm thâu.

   Từ hình ảnh khăn, đèn đến hình ảnh ánh mắt là cả một sự đổi thay rất lớn. Đến đây, không còn cầm lòng được nữa, cô gái đã hỏi chính lòng mình: mắt thương nhớ ai. Các hình tượng vẫn là một mạch thống nhất về ý nghĩa. Các câu hỏi vẫn cứ được cất lên. Và câu trả lời chính là ở trong niềm thương nỗi nhớ của người con gái đang yêu.

* Mười câu đầu: Mười câu thơ được cấu trúc theo lối vắt dòng với liên tiếp nhiều điệp từ thể hiện rõ nỗi thương nhớ triền miên của cô gái.

* Hai câu cuối: tâm trạng băn khoăn, lo lắng cho số phận, cho tình duyên.

c. Bài 6:

  Ca ngợi lối sống tình nghĩa, thủy chung của người bình dân xưa trong ca dao.Ở đây, để biểu đạt nội dung ý nghĩa, tác giả dân gian đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc mang tính truyền thống của ca dao (gừng cay – muối mặn).

Muối và gừng là hai hình ảnh nghệ thuật cũng được xây dựng từ những hình ảnh có thực trong đời sống (những gia vị trong bữa ăn, thuốc chữa bệnh). Gừng có vị cay nồng nhưng thơm, muối có vị mặn đậm đà. Từ hai ý nghĩa ấy, gừng và muối đã được chọn để biểu trưng cho hương vị của tình người trong cuộc sống – tình nghĩa thủy chung gắn bó sắt son.

   Bài ca dao là câu hát về tình nghĩa thủy chung nhưng nó hướng nhiều hơn đến tình nghĩa vợ chồng – những người đã từng chung sống với nhau, từng cùng nhau trải qua những ngày tháng gừng cay – muối mặn. Bài ca dao được viết bằng thể thơ song thất lục bát nhưng câu bát phá cách (Có cách xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa) kéo dài tới mười ba tiếng như là một sự luyến láy vừa tạo ra tính nhạc cho câu, vừa khẳng định cái giá trị bền vững không phai của tình nghĩa vợ chồng.
2. Nghệ thuật:

 Ca dao sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật mang tính truyền thống của sáng tác dân gian rất phong phú và sáng tạo ít thấy trong thơ của văn học viết.

+ Công thức mở đầu: có một hệ thống những bài ca dao mở đầu bằng cụm từ “Thân em…”.

+ Hình ảnh biểu tượng.

+ Cách so sánh, ẩn dụ, thể thơ lục bát, song thất lục bát.

3. Ý nghĩa văn bản:

  Ngợi ca và khẳng định vẻ đẹp đời sống tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của người bình dân Việt Nam xưa trong ca dao - dân ca.

Bài 2: Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão

1. Nội dung:

- Vóc dáng hùng dũng

+ Hình ảnh tráng sĩ : hiện lên qua tư thế "cầm ngang ngọn giáo" (hoành sóc) giữ non sông. Đó là tư thế hiên ngang với vẻ đẹp kì vĩ mang tầm vóc vũ trụ.

+ Hình ảnh "ba quân" : hiện lên với sức mạnh của đội quân đang sôi sục khí thế quyết chiến thắng.

+ Hình ảnh tráng sĩ lồng trong hình ảnh "ba quân" mang ý nghĩa khái quát, gợi ra hào khí dân tộc thời Trần - "hào khí Đông A".

- Khát vọng hào hùng

Khát vọng lập công danh để thoả "chí nam nhi", cũng là khát vọng được đem tài trí "tận trung báo quốc", thể hiện lẽ sống lớn của con người thời đại Đông A.

2. Nghệ thuật:

- Hình ảnh thơ hoành tráng, thích hợp với việc tái hiện khí thế hào hùng của thời đại và tầm vóc, chí hướng của người anh hùng.

- Ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, có sự dồn nén cao độ về cảm xúc.

3. Ý nghĩa văn bản:

Thể hiện lí tưởng cao cả của vị danh tướng Phạm Ngũ Lão, khắc ghi dấu ấn đáng tự hào về một thời kì oanh liệt, hào hùng của lịch sử dân tộc.

Bài 3: Cảnh ngày hè  (Bảo kính cảnh giới – 43) của Nguyễn Trãi.

1. Nội dung:

- Vẻ đẹp rực rỡ của bức tranh thiên nhiên

+ Mọi hình ảnh đều sống động : hoè lục đùn đùn, rợp mát như giương ô che rợp ; thạch lựu phun trào sắc đỏ, sen hồng đang độ nức ngát mùi hương.

+ Mọi màu sắc đều đậm đà : hoè lục, lựu đỏ, sen hồng.

- Vẻ đẹp thanh bình của bức tranh đời sống con người : nơi chợ cá dân dã thì "lao xao", tấp nập ; chốn lầu gác thì "dắng dỏi" tiếng ve như một bản đàn.

Cả thiên nhiên và cuộc sống con người đều tràn đầy sức sống. Điều đó cho thấy một tâm hồn khát sống, yêu đời mãnh liệt và tinh tế, giàu chất nghệ sĩ của tác giả.

- Niềm khát khao cao đẹp

+ Đắm mình trong cảnh ngày hè, nhà thơ ước có cây đàn của vua Thuấn, gảy khúc Nam phong cầu mưa thuận gió hoà để "Dân giàu đủ khắp đòi phương".

+ Lấy Nghiêu, Thuấn làm "gương báu răn mình", Nguyễn Trãi đã bộc lộ chí hướng cao cả: luôn khao khát đem tài trí để thực hành tư tưởng nhân nghĩa yêu nước thương dân.

2. Nghệ thuật:

- Hệ thống ngôn từ giản dị, tinh tế xen lẫn từ Hán và điển tích.

- Sử dụng từ láy độc đáo : đùn đùn, lao xao, dắng dỏi,...

3. Ý nghĩa văn bản:

Tư tưởng lớn xuyên suốt sự nghiệp trước tác của Nguyễn Trãi - tư tưởng nhân nghĩa yêu nước thương dân - được thể hiện qua những rung động trữ tình dạt dào trước cảnh thiên nhiên ngày hè.

Bài 4: Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

1. Nội dung:

- Nhàn thể hiện ở sự ung dung trong phong thái, thảnh thơi, vô sự trong lòng, vui với thú điền viên.

- Nhàn là nhận dại về mình, nhường khôn cho người, xa lánh chốn danh lợi bon chen, tìm về "nơi vắng vẻ", sống hoà nhập với thiên nhiên để "di dưỡng tinh thần".

- Nhàn là sống thuận theo lẽ tự nhiên, hưởng những thức có sẵn theo mùa ở nơi thôn dã mà không phải mưu cầu, tranh đoạt.

- Nhàn có cơ sở từ quan niệm nhìn cuộc đời là giấc mộng, phú quý tựa chiêm bao.

Từ đó, cảm nhận được trí tuệ uyên thâm, tâm hồn thanh cao của nhà thơ thể hiện qua lối sống đạm bạc, nhàn tản, vui với thú điền viên thôn dã.

2. Nghệ thuật:

- Sử dụng phép đối, điển cố.

- Ngôn từ mộc mạc, tự nhiên mà ý vị, giàu chất triết lí.

3. Ý nghĩa văn bản:

     Vẻ đẹp nhân cách của tác giả: thái độ coi thường danh lợi, luôn giữ cốt cách thanh cao trong mọi cảnh ngộ đời sống.

      Học sinh cần ghi nhớ: giá trị nghệ thuật cũng như nội dung từng văn bản; biết cách phân tích, lý giải từng bài thơ,  đoạn thơ.

 II. Phần Tiếng Việt, Làm văn

Bài 1: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

a. Kiến thức:

 * Khái niệm:  Ngôn ngữ sinh hoạt(khẩu ngữ, ngôn ngữ nói, lời nói miệng, ngôn ngữ hội thoại) là lời ăn tiếng nói hằng ngày dùng để thông tin, trao đổi ý nghĩ, tình cảm,…đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống.

* Các dạng biểu hiện:

   Ngôn ngữ sinh hoạt chủ yếu thể hiện ở dạng nói và có cả ở dạng viết:

- Trong dạng nói có: đối thoại, đa thoại.

- Trong dạng viết có: nhật kí, thư từ...

   Chú ý trong tác phẩm văn học có dạng lời nói tái hiện tức là mô phỏng lời thoại tự nhiên như: Kịch, tuồng, chèo, truyện, tiểu thuyết... hoặc bài ghi lời phát biểu, nói chuyện của các nhà lãnh đạo, nhà văn hóa... Khi tái hiện, lời nói tự nhiên được biến đổi phần nào theo thể loại văn bản và ý định chủ quan của người sáng tạo.

   Song ở trường hợp nào nói hay viết, tái hiện hay sáng tạo, ngôn ngữ sinh hoạt vẫn là tiếng nói hàng ngày chưa được gọt giũa.

* Đặc trưng:  Ngôn ngữ sinh hoạt có 3 đặc trư­ng cơ bản:

- Tính cụ thể: Cụ thể về hoàn cảnh, về con ngư­ời, về những cách thức nói năng, về từ ngữ, diễn đạt.

- Tính cảm xúc: Mỗi lời được nói ra bao giờ cũng gắn với cảm xúc của ng­ười nói. Cảm xúc ấy rất phong phú, sinh động nhưng cũng rất cụ thể.

- Tính cá thể: Ngôn ngữ sinh hoạt gắn với những đặc điểm riêng của cá nhân nh­ư giọng nói, từ ngữ, cách nói quen dùng, tuổi tác, giới tính, địa ph­ương…

Ba đặc tr­ưng này giúp ta phân biệt phong cách ngôn ngữ sinh hoạt với các phong cách ngôn ngữ khác như­ phong cách ngôn ngữ khoa học, phong cách ngôn ngữ hành chính, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật…

b. Kĩ năng:

- Nhận diện được ngôn ngữ sinh hoạt ở các dạng biểu hiện.

- Phân tích được những đặc trưng cơ bản.

- Biết sử dụng đạt hiệu quả cao trong giao tiếp.

                                 Học sinh cần nắm vững lý  thuyết và các bài luyện tập 

Bài 2: Thực hành phép tu từ ẩn dụ và  hoán dụ

 a. Kiến thức:

- Khái niệm cơ bản về từng phép tu từ : ẩn dụ, hoán dụ.

- Tác dụng của từng phép tu từ nói trên trong ngữ cảnh giao tiếp.

 b. Kĩ năng:

 - Nhận diện đúng hai phép tu từ trong văn bản.

 - Phân tích được cách thức cấu tạo của hai phép tu từ (quan hệ tương đồng hoặc tương cận).

 - Cảm nhận và phân tích được giá trị nghệ thuật của hai phép tu từ.

 - Bước đầu biết sử dụng ẩn dụ, hoán dụ trong những ngữ cảnh cần thiết.

                             Học sinh cần nắm vững lý  thuyết và các bài luyện tập 

Bài 3: Đặc điểm ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết

a. Kiến thức:

 Ngôn ngữ nói

* Khái niệm: Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ âm thanh, là lời nói trong giao tiếp. Người nói và người nghe trực tiếp trao đổi với nhau, vì vậy họ có thể đổi vai (nói - nghe, nghe - nói) cho nên trong giao tiếp có thể sửa đổi. Người nói ít có điều kiện gọt giũa, người nghe ít có điều kiện suy ngẫm, phân tích.

* Đặc điểm:

 + Rất đa dạng về ngữ điệu (ví dụ) có thể cao, thấp, nhanh, chậm, mạnh, yếu, liên tục hay ngắt quãng. Rõ ràng ngữ điệu là yếu tố quan trọng góp phần bộc lộ bổ sung thông tin.

 + Phối hợp giữa âm thanh và cử chỉ, dáng điệu

 + Từ ngữ sử dụng trong ngôn ngữ nói khá đa dạng.

- Từ địa phương

- Khẩu ngữ

- Tiếng lóng

- Biệt ngữ

 + Câu có khi rườm rà, trùng lặp về từ ngữ vì không có thời gian gọt giũa, vì đây là giao tiếp tức thời.

Ngôn ngữ viết

* Khái niệm: Ngôn ngữ viết được thể hiện bằng chữ viết trong văn bản và được tiếp nhận bằng thị giác

* Đặc điểm:

- Người viết và người đọc phải biết các kí hiệu chữ viết, các quy tắc, các quy tắc chính tả, các quy tắc tổ chức văn bản.

- Khi viết phải suy ngẫm, lựa chọn, gọt giũa nên người đọc phải đọc đi đọc lại, phân tích nghiền ngẫm để lĩnh hội.

- Ngôn ngữ viết đến với đông đảo bạn đọc trong không gian và thời gian lâu dài.

- Ngôn ngữ viết không có yếu tố ngữ điệu, cử chỉ nhưng có sự hỗ trợ của hệ thống dấu câu.

- Từ ngữ phong phú nên khi viết có điều kiện được lựa chọn thay thế

- Tùy thuộc vào phong cách ngôn ngữ mà sử dụng từ ngữ.

- Không dùng các từ mang tính khẩu ngữ, địa phương, thổ ngữ.

- Được sử dụng câu dài ngắn khác nhau tùy thuộc ý định.

b. Kĩ năng:

 - Nhận diện được ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.

 - Phân tích được đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.

 - Biết sử dụng có hiệu quả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết trong những ngữ cảnh cần thiết.

                             Học sinh cần nắm vững lý  thuyết và các bài luyện tập 

Lưu ý: Học sinh cần ôn lại các kiến thức:

- Các phép tu từ, hình thức nghệ thuật như so sánh; điệp từ, ngữ, câu, cấu trúc câu; liệt kê; phép chêm xen, nhân hóa...

     - Các phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả và biểu cảm; phong cách ngôn ngữ: phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và các phong cách ngôn ngữ đã học;  các thao tác lập luận đã học…     

      - Cách viết đoạn vănnghị luận               

B. CẤU TRÚC ĐỀ VÀ ĐỀ THAM KHẢO

  1. Thời gian làm bài: 90 phút

  2. Cấu trúc đề : gồm 2 phần:

      Phần I. Đọc hiểu (4,0 điểm)

           Đọc – hiểu  một đoạn văn bản hoặc đoạn thơ: trong hoặc ngoài SGK. Có 3 đến 4 câu hỏi ở các mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng. (có viết đoạn văn khoảng 100 từ 2,0 điểm)

      Phần II. Làm văn (6,0 điểm )

           Văn bản nghị luận văn học.

3. Yêu cầu và cách làm bài văn nghị luận văn học:

a.Yêu cầu về kĩ năng: Biết cách làm bài văn nghị luận về văn học; phân tích được giá trị nghệ thuật; kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp thông thường

b.Yêu cầu về kiến thức: Trên cơ sở những hiểu biết về tác giả, tác phẩm; học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau song cần nêu được những ý cơ bản mà đề bài yêu cầu:

c. Cách làm bài:

* Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn và sinh động, hấp dẫn về tác giả, tác phẩm và nội dung cần nghị luận

* Thân bài:

+ Giải thích những khái niệm, nhan đề… xuất hiện trong đề bài (nếu có)

+ Phân tích từng luận điểm: dùng lí lẽ kết hợp lí giải những  câu thơ, câu văn với những từ ngữ, hình ảnh mang ý nghĩa… , những biện pháp nghệ thuật; từ đó nêu ra những nội dụng cơ bản

+ Kết lại những nét nghệ thuật chính của đoạn thơ – bài thơ, đoạn văn – bài văn đề ra yêu cầu phân tích

* Kết bài: Đánh giá khái quát giá trị nghệ thuật và nội dung chính của vấn đề; liên hệ, mở rộng, nâng cao.

   4. Đề tham khảo:      ĐỀ THI HỌC KỲ I  NĂM HỌC 2018 - 2019

Môn Ngữ văn – Khối 10

Thời gian làm bài:  90 phút(không kể thời gian phát đề)

I. ĐỌC HIỂU(4,0 điểm)

Đọc  văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

   Ngạn ngữ có câu: Thời gian là vàng. Nhưng vàng thì mua được mà thời gian không mua được. Thế mới biết vàng có giá mà thời gian là vô giá.

   Thật vậy thời gian là sự sống. Bạn vào bệnh viện mà xem, người bệnh nặng, nếu kịp thời chạy chữa thì sống, để chậm là chết.

   Thời gian là thắng lợi. Bạn hỏi các anh bộ đội mà xem, trong chiến đấu, biết nắm thời cơ, đánh địch đúng lúc là thắng lợi, để mất thời cơ là thất bại.

   Thời gian là tiền. Trong kinh doanh, sản xuất hàng hóa đúng lúc là lãi, không đúng lúc là lỗ.

   Thời gian là tri thức. Phải thường xuyên học tập thì mới giỏi. Học ngoại ngữ mà bữa đực, bữa cái, thiếu kiên trì, thì học mấy cũng không giỏi được.

   Thế mới biết, nếu biết tận dụng thời gian thì làm được bao nhiêu điều cho bản thân và cho xã hội. Bỏ phí thời gian thì có hại về sau hối tiếc cũng không kịp”.

                             (Theo Phương Liên, Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục, 2005, tr.36-37)

Câu 1. Nội dung của văn bản. (0.5 điểm)

Câu 2. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. (0.5 điểm)

Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của hai biện pháp tu từ nghệ thuật trong câu: Thời gian là tri thức. Phải thường xuyên học tập thì mới giỏi. Học ngoại ngữ mà bữa đực, bữa cái, thiếu kiên trì, thì học mấy cũng không giỏi được”. (1.0 điểm)

Câu 4. Viết một đọan văn(khoảng 100 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề sử dụng thời gian trong học tập cũng như cuộc sống hiện nay. (2.0 điểm)

II. LÀM VĂN(6,0 điểm)

     Cảm nhận của anh/chị về bài thơ  Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm:                                   

                                                     Một mai, một cuốc, một cần câu,

Thơ thẩn dầu  ai vui thú nào.

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,

Người khôn, người đến chốn lao xao.

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống,

Nhìn  xem phú  quý tựa chiêm bao.

                              ( Theo SGK Ngữ văn 10, tập một – NXB Giáo dục, 2016)

                                                   

-----Hết-----

                                                                                     

                                                                                                    

Đăng nhập

 dethi xem ngoaikhoa  duhoc